Bỏ qua menu, tới nội dung
Học đầu tư giá trị cùng Buffett & MungerCủ khoai tây lười động đậy

Thư cổ đôngBuffett

Thư cổ đông Berkshire Hathaway năm 1993

Giá trị sổ sách mỗi cổ phiếu tăng 14,3%, tài sản ròng tăng 1,5 tỷ USD, Berkshire mua Dexter Shoe bằng cổ phiếu, thuế doanh nghiệp lên 35%, thêm mục về quản trị công ty.

Berkshire Hathaway Inc., năm 1993. Bản dịch của Khoai Lười, đăng

Dịch từ bản gốc tại berkshirehathaway.com, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: berkshirehathaway.com/letters/1993.html.

Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.

To the Shareholders of Berkshire Hathaway Inc.:

Gửi các cổ đông của Berkshire Hathaway Inc.:

Our per-share book value increased 14.3% during 1993. Over the last 29 years (that is, since present management took over) book value has grown from $19 to $8,854, or at a rate of 23.3% compounded annually.

Giá trị sổ sách (book value) trên mỗi cổ phiếu của chúng ta đã tăng 14,3% trong năm 1993. Trong 29 năm qua (tức là kể từ khi ban điều hành hiện tại tiếp quản), giá trị sổ sách đã tăng từ 19 USD lên 8.854 USD, tức với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm 23,3%.

During the year, Berkshire's net worth increased by $1.5 billion, a figure affected by two negative and two positive non-operating items. For the sake of completeness, I'll explain them here. If you aren't thrilled by accounting, however, feel free to fast-forward through this discussion:

Trong năm, giá trị tài sản ròng (net worth) của Berkshire đã tăng 1,5 tỷ USD, một con số chịu tác động của hai khoản mục tiêu cực và hai khoản mục tích cực ngoài hoạt động kinh doanh. Để trình bày cho đầy đủ, tôi sẽ giải thích chúng ở đây. Tuy nhiên, nếu các bạn không hứng thú với kế toán, cứ thoải mái tua nhanh qua phần bàn luận này:

  1. The first negative was produced by a change in Generally Accepted Accounting Principles (GAAP) having to do with the taxes we accrue against unrealized appreciation in the securities we carry at market value. The old rule said that the tax rate used should be the one in effect when the appreciation took place. Therefore, at the end of 1992, we were using a rate of 34% on the $6.4 billion of gains generated after 1986 and 28% on the $1.2 billion of gains generated before that. The new rule stipulates that the current tax rate should be applied to all gains. The rate in the first quarter of 1993, when this rule went into effect, was 34%. Applying that rate to our pre-1987 gains reduced net worth by $70 million.
  1. Khoản tiêu cực thứ nhất phát sinh từ một thay đổi trong các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) liên quan đến khoản thuế mà chúng ta trích trước trên lãi chưa thực hiện (unrealized appreciation) của các chứng khoán mà chúng ta ghi nhận theo giá thị trường. Quy định cũ nói rằng thuế suất được sử dụng phải là thuế suất có hiệu lực vào thời điểm phần tăng giá phát sinh. Do đó, vào cuối năm 1992, chúng ta đang áp dụng thuế suất 34% trên 6,4 tỷ USD lãi phát sinh sau năm 1986 và 28% trên 1,2 tỷ USD lãi phát sinh trước đó. Quy định mới nêu rõ rằng thuế suất hiện hành phải được áp dụng cho toàn bộ các khoản lãi. Thuế suất trong quý một năm 1993, khi quy định này có hiệu lực, là 34%. Việc áp dụng thuế suất đó cho các khoản lãi phát sinh trước năm 1987 của chúng ta đã làm giảm giá trị tài sản ròng 70 triệu USD.
  1. The second negative, related to the first, came about because the corporate tax rate was raised in the third quarter of 1993 to 35%. This change required us to make an additional charge of 1% against all of our unrealized gains, and that charge penalized net worth by $75 million. Oddly, GAAP required both this charge and the one described above to be deducted from the earnings we report, even though the unrealized appreciation that gave rise to the charges was never included in earnings, but rather was credited directly to net worth.
  1. Khoản tiêu cực thứ hai, có liên quan đến khoản thứ nhất, xảy ra do thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp được nâng lên 35% trong quý ba năm 1993. Thay đổi này buộc chúng ta phải ghi nhận thêm một khoản chi phí 1% trên toàn bộ lãi chưa thực hiện của chúng ta, và khoản chi phí đó đã làm giá trị tài sản ròng bị thiệt 75 triệu USD. Điều kỳ lạ là GAAP yêu cầu cả khoản chi phí này lẫn khoản được mô tả ở trên đều phải được trừ vào lợi nhuận mà chúng ta báo cáo, mặc dù phần tăng giá chưa thực hiện làm phát sinh các khoản chi phí đó chưa bao giờ được đưa vào lợi nhuận, mà được ghi tăng trực tiếp vào giá trị tài sản ròng.
  1. Another 1993 change in GAAP affects the value at which we carry the securities that we own. In recent years, both the common stocks and certain common-equivalent securities held by our insurance companies have been valued at market, whereas equities held by our non-insurance subsidiaries or by the parent company were carried at their aggregate cost or market, whichever was lower. Now GAAP says that all common stocks should be carried at market, a rule we began following in the fourth quarter of 1993. This change produced a gain in Berkshire's reported net worth of about $172 million.
  1. Một thay đổi khác của GAAP trong năm 1993 ảnh hưởng đến giá trị mà chúng ta dùng để ghi nhận các chứng khoán chúng ta sở hữu. Trong những năm gần đây, cả cổ phiếu phổ thông (common stocks) lẫn một số chứng khoán tương đương cổ phiếu phổ thông do các công ty bảo hiểm của chúng ta nắm giữ đều được ghi nhận theo giá thị trường, trong khi cổ phiếu do các công ty con ngoài bảo hiểm hoặc do công ty mẹ nắm giữ được ghi nhận theo tổng giá gốc hoặc tổng giá thị trường, tùy theo mức nào thấp hơn. Giờ đây GAAP quy định rằng toàn bộ cổ phiếu phổ thông phải được ghi nhận theo giá thị trường, một quy định mà chúng ta bắt đầu áp dụng từ quý bốn năm 1993. Thay đổi này đã tạo ra một khoản tăng khoảng 172 triệu USD trong giá trị tài sản ròng được báo cáo của Berkshire.
  1. Finally, we issued some stock last year. In a transaction described in last year's Annual Report, we issued 3,944 shares in early January, 1993 upon the conversion of $46 million convertible debentures that we had called for redemption. Additionally, we issued 25,203 shares when we acquired Dexter Shoe, a purchase discussed later in this report. The overall result was that our shares outstanding increased by 29,147 and our net worth by about $478 million. Per-share book value also grew, because the shares issued in these transactions carried a price above their book value.
  1. Cuối cùng, năm ngoái chúng ta đã phát hành một số cổ phiếu. Trong một giao dịch đã được mô tả trong Báo cáo thường niên năm ngoái, chúng ta đã phát hành 3.944 cổ phiếu vào đầu tháng 1 năm 1993 khi chuyển đổi 46 triệu USD trái phiếu không có bảo đảm (debentures) dạng chuyển đổi mà chúng ta đã gọi mua lại trước hạn (called for redemption). Ngoài ra, chúng ta đã phát hành 25.203 cổ phiếu khi mua lại Dexter Shoe, một thương vụ được bàn ở phần sau của báo cáo này. Kết quả tổng thể là số cổ phiếu đang lưu hành của chúng ta tăng thêm 29.147 cổ phiếu và giá trị tài sản ròng tăng khoảng 478 triệu USD. Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu cũng tăng, vì cổ phiếu phát hành trong các giao dịch này mang mức giá cao hơn giá trị sổ sách của chúng.

Of course, it's per-share intrinsic value, not book value, that counts. Book value is an accounting term that measures the capital, including retained earnings, that has been put into a business. Intrinsic value is a present-value estimate of the cash that can be taken out of a business during its remaining life. At most companies, the two values are unrelated. Berkshire, however, is an exception: Our book value, though significantly below our intrinsic value, serves as a useful device for tracking that key figure. In 1993, each measure grew by roughly 14%, advances that I would call satisfactory but unexciting.

Dĩ nhiên, điều quan trọng là giá trị nội tại (intrinsic value) trên mỗi cổ phiếu, chứ không phải giá trị sổ sách. Giá trị sổ sách là một thuật ngữ kế toán đo lường lượng vốn, bao gồm cả lợi nhuận giữ lại (retained earnings), đã được đưa vào một doanh nghiệp. Giá trị nội tại là một ước tính giá trị hiện tại của lượng tiền mặt có thể rút ra khỏi một doanh nghiệp trong suốt phần đời còn lại của nó. Ở hầu hết các công ty, hai giá trị này không liên quan đến nhau. Tuy nhiên, Berkshire là một ngoại lệ: Giá trị sổ sách của chúng ta, dù thấp hơn đáng kể so với giá trị nội tại, vẫn là một công cụ hữu ích để theo dõi con số then chốt đó. Năm 1993, mỗi thước đo đều tăng khoảng 14%, những mức tăng mà tôi sẽ gọi là thỏa đáng nhưng không gây hào hứng.

These gains, however, were outstripped by a much larger gain - 39% - in Berkshire's market price. Over time, of course, market price and intrinsic value will arrive at about the same destination. But in the short run the two often diverge in a major way, a phenomenon I've discussed in the past. Two years ago, Coca-Cola and Gillette, both large holdings of ours, enjoyed market price increases that dramatically outpaced their earnings gains. In the 1991 Annual Report, I said that the stocks of these companies could not continuously over perform their businesses.

Tuy nhiên, các mức tăng này đã bị một mức tăng lớn hơn nhiều - 39% - của giá thị trường cổ phiếu Berkshire bỏ xa. Dĩ nhiên, theo thời gian, giá thị trường và giá trị nội tại sẽ đến một đích xấp xỉ như nhau. Nhưng trong ngắn hạn, hai giá trị này thường chênh lệch nhau rất lớn, một hiện tượng mà tôi đã bàn trong quá khứ. Hai năm trước, Coca-Cola và Gillette, cả hai đều là những khoản nắm giữ lớn của chúng ta, có mức tăng giá thị trường vượt xa một cách ngoạn mục mức tăng lợi nhuận của họ. Trong Báo cáo thường niên năm 1991, tôi đã nói rằng cổ phiếu của các công ty này không thể liên tục tăng vượt doanh nghiệp cơ sở của chúng.

From 1991 to 1993, Coke and Gillette increased their annual operating earnings per share by 38% and 37% respectively, but their market prices moved up only 11% and 6%. In other words, the companies overperformed their stocks, a result that no doubt partly reflects Wall Street's new apprehension about brand names. Whatever the reason, what will count over time is the earnings performance of these companies. If they prosper, Berkshire will also prosper, though not in a lock-step manner.

Từ năm 1991 đến năm 1993, Coke và Gillette đã tăng lợi nhuận hoạt động trên mỗi cổ phiếu (operating earnings per share) hằng năm của họ lần lượt 38% và 37%, nhưng giá thị trường của họ chỉ tăng 11% và 6%. Nói cách khác, các công ty đã tăng trưởng vượt cổ phiếu của chính họ, một kết quả mà chắc chắn một phần phản ánh nỗi e ngại mới của Phố Wall đối với các thương hiệu. Dù lý do là gì, điều sẽ có ý nghĩa theo thời gian là kết quả lợi nhuận của các công ty này. Nếu họ thịnh vượng, Berkshire cũng sẽ thịnh vượng, dù không theo kiểu bước đều răm rắp.

Let me add a lesson from history: Coke went public in 1919 at $40 per share. By the end of 1920 the market, coldly reevaluating Coke's future prospects, had battered the stock down by more than 50%, to $19.50. At yearend 1993, that single share, with dividends reinvested, was worth more than $2.1 million. As Ben Graham said: "In the short-run, the market is a voting machine - reflecting a voter-registration test that requires only money, not intelligence or emotional stability - but in the long-run, the market is a weighing machine."

Hãy để tôi bổ sung một bài học từ lịch sử: Coke phát hành cổ phiếu ra công chúng năm 1919 với giá 40 USD mỗi cổ phiếu. Đến cuối năm 1920, thị trường, khi lạnh lùng đánh giá lại triển vọng tương lai của Coke, đã nện cổ phiếu này xuống hơn 50%, còn 19,50 USD. Vào cuối năm 1993, chính một cổ phiếu đó, với cổ tức được tái đầu tư, có giá trị hơn 2,1 triệu USD. Như Ben Graham đã nói: "Trong ngắn hạn, thị trường là một máy bỏ phiếu (voting machine) - phản ánh một kỳ sát hạch đăng ký cử tri chỉ đòi hỏi tiền, chứ không đòi hỏi trí tuệ hay sự ổn định cảm xúc - nhưng trong dài hạn, thị trường là một máy cân (weighing machine)."

So how should Berkshire's over-performance in the market last year be viewed? Clearly, Berkshire was selling at a higher percentage of intrinsic value at the end of 1993 than was the case at the beginning of the year. On the other hand, in a world of 6% or 7% long-term interest rates, Berkshire's market price was not inappropriate if - and you should understand that this is a huge if - Charlie Munger, Berkshire's Vice Chairman, and I can attain our long-standing goal of increasing Berkshire's per-share intrinsic value at an average annual rate of 15%. We have not retreated from this goal. But we again emphasize, as we have for many years, that the growth in our capital base makes 15% an ever-more difficult target to hit.

Vậy nên nhìn nhận thế nào về việc cổ phiếu Berkshire tăng vượt trội trên thị trường năm ngoái? Rõ ràng, vào cuối năm 1993, Berkshire được giao dịch ở một tỷ lệ phần trăm so với giá trị nội tại cao hơn so với đầu năm. Mặt khác, trong một thế giới có lãi suất dài hạn 6% hoặc 7%, giá thị trường của Berkshire không phải là không phù hợp nếu - và các bạn cần hiểu rằng đây là một chữ nếu rất lớn - Charlie Munger, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị của Berkshire, và tôi có thể đạt được mục tiêu lâu nay của chúng tôi là gia tăng giá trị nội tại trên mỗi cổ phiếu của Berkshire với tốc độ bình quân hằng năm 15%. Chúng tôi không hề rút lui khỏi mục tiêu này. Nhưng một lần nữa chúng tôi nhấn mạnh, như chúng tôi đã làm trong nhiều năm, rằng sự tăng trưởng của quy mô vốn của chúng ta khiến 15% ngày càng trở thành một mục tiêu khó đạt hơn.

What we have going for us is a growing collection of good-sized operating businesses that possess economic characteristics ranging from good to terrific, run by managers whose performance ranges from terrific to terrific. You need have no worries about this group.

Điều có lợi cho chúng ta là một tập hợp ngày càng lớn các doanh nghiệp hoạt động có quy mô đáng kể, sở hữu những đặc điểm kinh tế từ tốt đến tuyệt vời, do những nhà quản lý có thành tích từ tuyệt vời đến tuyệt vời điều hành. Các bạn không cần phải lo lắng gì về nhóm này.

The capital-allocation work that Charlie and I do at the parent company, using the funds that our managers deliver to us, has a less certain outcome: It is not easy to find new businesses and managers comparable to those we have. Despite that difficulty, Charlie and I relish the search, and we are happy to report an important success in 1993.

Công việc phân bổ vốn (capital-allocation) mà Charlie và tôi thực hiện ở công ty mẹ, sử dụng nguồn tiền mà các nhà quản lý của chúng ta chuyển về cho chúng tôi, có kết quả kém chắc chắn hơn: Không dễ tìm được những doanh nghiệp và nhà quản lý mới tương xứng với những doanh nghiệp và nhà quản lý mà chúng ta đang có. Bất chấp khó khăn đó, Charlie và tôi rất thích thú với cuộc tìm kiếm, và chúng tôi vui mừng báo cáo một thành công quan trọng trong năm 1993.

What we did last year was build on our 1991 purchase of H. H. Brown, a superbly-run manufacturer of work shoes, boots and other footwear. Brown has been a real winner: Though we had high hopes to begin with, these expectations have been considerably exceeded thanks to Frank Rooney, Jim Issler and the talented managers who work with them. Because of our confidence in Frank's team, we next acquired Lowell Shoe, at the end of 1992. Lowell was a long-established manufacturer of women's and nurses' shoes, but its business needed some fixing. Again, results have surpassed our expectations. So we promptly jumped at the chance last year to acquire Dexter Shoe of Dexter, Maine, which manufactures popular-priced men's and women's shoes. Dexter, I can assure you, needs no fixing: It is one of the best-managed companies Charlie and I have seen in our business lifetimes.

Điều chúng ta đã làm năm ngoái là phát triển tiếp trên nền thương vụ mua H. H. Brown năm 1991, một nhà sản xuất giày lao động, ủng và các loại giày dép khác được điều hành xuất sắc. Brown thực sự là một doanh nghiệp thành công: Dù ngay từ đầu chúng tôi đã đặt nhiều kỳ vọng, những kỳ vọng này đã được vượt qua đáng kể nhờ Frank Rooney, Jim Issler và những nhà quản lý tài năng làm việc cùng họ. Vì tin tưởng vào đội ngũ của Frank, tiếp đó chúng ta đã mua lại Lowell Shoe vào cuối năm 1992. Lowell là một nhà sản xuất giày nữ và giày cho y tá lâu đời, nhưng hoạt động kinh doanh của công ty cần được chấn chỉnh đôi chút. Một lần nữa, kết quả đã vượt kỳ vọng của chúng tôi. Vì vậy, năm ngoái chúng tôi đã nhanh chóng chớp lấy cơ hội mua lại Dexter Shoe ở Dexter, Maine, công ty sản xuất giày nam và giày nữ giá phổ thông. Tôi có thể cam đoan với các bạn rằng Dexter không cần chấn chỉnh gì cả: Đây là một trong những công ty được quản lý tốt nhất mà Charlie và tôi từng thấy trong suốt cuộc đời kinh doanh của mình.

Harold Alfond, who started working in a shoe factory at 25 cents an hour when he was 20, founded Dexter in 1956 with $10,000 of capital. He was joined in 1958 by Peter Lunder, his nephew. The two of them have since built a business that now produces over 7.5 million pairs of shoes annually, most of them made in Maine and the balance in Puerto Rico. As you probably know, the domestic shoe industry is generally thought to be unable to compete with imports from low-wage countries. But someone forgot to tell this to the ingenious managements of Dexter and H. H. Brown and to their skilled labor forces, which together make the U.S. plants of both companies highly competitive against all comers.

Harold Alfond, người bắt đầu làm việc trong một nhà máy giày với mức lương 25 xu một giờ khi 20 tuổi, đã thành lập Dexter năm 1956 với 10.000 USD vốn. Năm 1958, Peter Lunder, cháu trai ông, gia nhập cùng ông. Kể từ đó, hai người đã xây dựng một doanh nghiệp hiện sản xuất hơn 7,5 triệu đôi giày mỗi năm, phần lớn được sản xuất tại Maine và phần còn lại tại Puerto Rico. Như có lẽ các bạn đã biết, ngành giày trong nước thường bị cho là không thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ các nước có chi phí nhân công thấp. Nhưng ai đó đã quên nói điều này với các ban điều hành tài tình của Dexter và H. H. Brown cũng như với lực lượng lao động lành nghề của họ, những người đã cùng nhau làm cho các nhà máy tại Mỹ của cả hai công ty có sức cạnh tranh cao trước mọi đối thủ.

Dexter's business includes 77 retail outlets, located primarily in the Northeast. The company is also a major manufacturer of golf shoes, producing about 15% of U.S. output. Its bread and butter, though, is the manufacture of traditional shoes for traditional retailers, a job at which it excels: Last year both Nordstrom and J.C. Penney bestowed special awards upon Dexter for its performance as a supplier during 1992.

Hoạt động kinh doanh của Dexter bao gồm 77 cửa hàng bán lẻ, chủ yếu đặt tại vùng Đông Bắc. Công ty cũng là một nhà sản xuất giày chơi golf lớn, chiếm khoảng 15% sản lượng của Mỹ. Tuy nhiên, miếng cơm manh áo của công ty là sản xuất giày truyền thống cho các nhà bán lẻ truyền thống, một công việc mà công ty làm xuất sắc: Năm ngoái, cả Nordstrom và J.C. Penney đều trao giải thưởng đặc biệt cho Dexter vì thành tích của công ty với vai trò nhà cung cấp trong năm 1992.

Our 1993 results include Dexter only from our date of merger, November 7th. In 1994, we expect Berkshire's shoe operations to have more than $550 million in sales, and we would not be surprised if the combined pre-tax earnings of these businesses topped $85 million. Five years ago we had no thought of getting into shoes. Now we have 7,200 employees in that industry, and I sing "There's No Business Like Shoe Business" as I drive to work. So much for strategic plans.

Kết quả năm 1993 của chúng ta chỉ bao gồm Dexter kể từ ngày sáp nhập, ngày 7 tháng 11. Năm 1994, chúng tôi dự kiến mảng giày của Berkshire sẽ có doanh thu hơn 550 triệu USD, và chúng tôi sẽ không ngạc nhiên nếu tổng lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp này vượt 85 triệu USD. Năm năm trước, chúng tôi chưa hề nghĩ đến chuyện bước vào ngành giày. Giờ đây chúng ta có 7.200 nhân viên trong ngành đó, và tôi hát "There's No Business Like Shoe Business" (Chẳng ngành nào bằng ngành giày) khi lái xe đi làm. Kế hoạch chiến lược cũng chỉ đến thế.

At Berkshire, we have no view of the future that dictates what businesses or industries we will enter. Indeed, we think it's usually poison for a corporate giant's shareholders if it embarks upon new ventures pursuant to some grand vision. We prefer instead to focus on the economic characteristics of businesses that we wish to own and the personal characteristics of managers with whom we wish to associate - and then to hope we get lucky in finding the two in combination. At Dexter, we did.

Tại Berkshire, chúng tôi không có một tầm nhìn nào về tương lai quyết định việc chúng ta sẽ bước vào những doanh nghiệp hay ngành nghề nào. Thực tế, chúng tôi cho rằng việc một tập đoàn khổng lồ dấn thân vào những dự án mới theo một tầm nhìn vĩ đại nào đó thường là liều thuốc độc đối với cổ đông của nó. Thay vào đó, chúng tôi muốn tập trung vào các đặc điểm kinh tế của những doanh nghiệp mà chúng tôi muốn sở hữu và các phẩm chất cá nhân của những nhà quản lý mà chúng tôi muốn cộng tác - rồi hy vọng mình gặp may khi tìm được cả hai kết hợp cùng nhau. Ở Dexter, chúng tôi đã gặp may.

And now we pause for a short commercial: Though they owned a business jewel, we believe that Harold and Peter (who were not interested in cash) made a sound decision in exchanging their Dexter stock for shares of Berkshire. What they did, in effect, was trade a 100% interest in a single terrific business for a smaller interest in a large group of terrific businesses. They incurred no tax on this exchange and now own a security that can be easily used for charitable or personal gifts, or that can be converted to cash in amounts, and at times, of their own choosing. Should members of their families desire to, they can pursue varying financial paths without running into the complications that often arise when assets are concentrated in a private business.

Và giờ chúng tôi xin tạm dừng cho một đoạn quảng cáo ngắn: Dù họ sở hữu một viên ngọc kinh doanh, chúng tôi tin rằng Harold và Peter (những người không quan tâm đến tiền mặt) đã đưa ra một quyết định đúng đắn khi đổi cổ phiếu Dexter của họ lấy cổ phiếu Berkshire. Thực chất, điều họ làm là đổi phần sở hữu 100% trong một doanh nghiệp tuyệt vời duy nhất lấy một phần sở hữu nhỏ hơn trong một nhóm lớn các doanh nghiệp tuyệt vời. Họ không phải chịu thuế cho giao dịch hoán đổi này và giờ đây sở hữu một chứng khoán có thể dễ dàng dùng để làm quà từ thiện hoặc quà tặng cá nhân, hoặc có thể chuyển thành tiền mặt với số lượng và vào thời điểm do chính họ lựa chọn. Nếu các thành viên trong gia đình họ muốn, họ có thể theo đuổi những con đường tài chính khác nhau mà không vấp phải những phức tạp thường phát sinh khi tài sản tập trung trong một doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân.

For tax and other reasons, private companies also often find it difficult to diversify outside their industries. Berkshire, in contrast, can diversify with ease. So in shifting their ownership to Berkshire, Dexter's shareholders solved a reinvestment problem. Moreover, though Harold and Peter now have non-controlling shares in Berkshire, rather than controlling shares in Dexter, they know they will be treated as partners and that we will follow owner-oriented practices. If they elect to retain their Berkshire shares, their investment result from the merger date forward will exactly parallel my own result. Since I have a huge percentage of my net worth committed for life to Berkshire shares - and since the company will issue me neither restricted shares nor stock options - my gain-loss equation will always match that of all other owners.

Vì lý do thuế và các lý do khác, các công ty không đại chúng cũng thường gặp khó khăn trong việc đa dạng hóa ra ngoài ngành của mình. Ngược lại, Berkshire có thể đa dạng hóa một cách dễ dàng. Vì vậy, khi chuyển quyền sở hữu của mình sang Berkshire, các cổ đông của Dexter đã giải quyết được bài toán tái đầu tư. Hơn nữa, dù giờ đây Harold và Peter nắm cổ phần không chi phối ở Berkshire thay vì cổ phần chi phối ở Dexter, họ biết rằng họ sẽ được đối xử như những người cộng sự và rằng chúng tôi sẽ tuân theo những cách làm hướng về chủ sở hữu. Nếu họ chọn giữ lại cổ phiếu Berkshire, kết quả đầu tư của họ kể từ ngày sáp nhập trở đi sẽ song hành chính xác với kết quả của chính tôi. Vì tôi có một tỷ lệ rất lớn giá trị tài sản ròng của mình gắn trọn đời vào cổ phiếu Berkshire - và vì công ty sẽ không cấp cho tôi cổ phiếu thưởng hạn chế chuyển nhượng (restricted shares) hay quyền chọn mua cổ phiếu (stock options) - phương trình lãi-lỗ của tôi sẽ luôn khớp với phương trình của tất cả các chủ sở hữu khác.

Additionally, Harold and Peter know that at Berkshire we can keep our promises: There will be no changes of control or culture at Berkshire for many decades to come. Finally, and of paramount importance, Harold and Peter can be sure that they will get to run their business - an activity they dearly love - exactly as they did before the merger. At Berkshire, we do not tell .400 hitters how to swing.

Ngoài ra, Harold và Peter biết rằng tại Berkshire chúng tôi có thể giữ lời hứa: Sẽ không có thay đổi nào về quyền kiểm soát hay văn hóa tại Berkshire trong nhiều thập kỷ tới. Cuối cùng, và có tầm quan trọng hàng đầu, Harold và Peter có thể chắc chắn rằng họ sẽ được điều hành doanh nghiệp của mình - một hoạt động mà họ hết mực yêu thích - đúng như cách họ đã làm trước khi sáp nhập. Tại Berkshire, chúng tôi không dạy các tay đập có tỷ lệ đánh trúng 0,400 cách vung gậy.

What made sense for Harold and Peter probably makes sense for a few other owners of large private businesses. So, if you have a business that might fit, let me hear from you. Our acquisition criteria are set forth in the appendix on page 22.

Điều hợp lý với Harold và Peter có lẽ cũng hợp lý với một vài chủ sở hữu khác của các doanh nghiệp lớn thuộc sở hữu tư nhân. Vì vậy, nếu các bạn có một doanh nghiệp có thể phù hợp, hãy cho tôi biết. Các tiêu chí mua lại của chúng tôi được trình bày trong phần phụ lục ở trang 22.

Sources of Reported Earnings

Các nguồn lợi nhuận báo cáo

The table below shows the major sources of Berkshire's reported earnings. In this presentation, amortization of Goodwill and other major purchase-price accounting adjustments are not charged against the specific businesses to which they apply, but are instead aggregated and shown separately. This procedure lets you view the earnings of our businesses as they would have been reported had we not purchased them. I've explained in past reports why this form of presentation seems to us to be more useful to investors and managers than one utilizing GAAP, which requires purchase-price adjustments to be made on a business-by-business basis. The total net earnings we show in the table are, of course, identical to the GAAP total in our audited financial statements.

Bảng dưới đây trình bày các nguồn chính tạo nên lợi nhuận báo cáo của Berkshire. Trong cách trình bày này, khoản phân bổ (amortization) lợi thế thương mại (Goodwill) và các điều chỉnh kế toán theo giá mua (purchase-price accounting adjustments) lớn khác không được tính trừ vào từng doanh nghiệp cụ thể mà chúng liên quan, mà được tổng hợp và trình bày riêng. Cách làm này cho phép các bạn xem lợi nhuận của các doanh nghiệp của chúng ta như chúng lẽ ra đã được báo cáo nếu chúng ta không mua các doanh nghiệp đó. Tôi đã giải thích trong các báo cáo trước vì sao hình thức trình bày này đối với chúng tôi có vẻ hữu ích hơn cho nhà đầu tư và nhà quản lý so với hình thức áp dụng GAAP, vốn đòi hỏi các điều chỉnh theo giá mua phải được thực hiện theo từng doanh nghiệp. Tổng lợi nhuận ròng mà chúng tôi trình bày trong bảng, dĩ nhiên, giống hệt tổng số theo GAAP trong báo cáo tài chính đã kiểm toán của chúng ta.

Operating Earnings                              Pre-Tax      Earnings      Berkshire      Share
(000s omitted)                                   1993          1992          1993          1992
Insurance Group:
   Underwriting                                 $30,876      $(108,961)     $20,156      $(71,141)
   Net investment income                        375,946       355,067       321,321      305,763
H. H. Brown, Lowell, and Dexter                 44,025*        27,883       28,829        17,340
Buffalo News                                     50,962        47,863        29,696       28,163
Commercial & Consumer Finance                    22,695        19,836        14,161       12,664
Fechheimer                                      13,442         13,698        6,931        7,267
Kirby                                            39,147        35,653       25,056        22,795
Nebraska Furniture Mart                          21,540        17,110        10,398       8,072
Scott Fetzer Manufacturing Group                38,196         31,954       23,809        19,883
See’s Candies                                   41,150         42,357       24,367        25,501
World Book                                       19,915        29,044       13,537        19,503
Purchase-Price Accounting & Goodwill Changes    (17,033)      (12,087)      (13,996)     (13,070)
Interest Expense**                              (56,545)      (98,643)      (35,614)     (62,899)
Shareholder-Designated Contributions            (9,448)       (7,634)       (5,994)       (4,913)
Other                                            28,428        56,540       15,094        32,798
Operating Earnings                              643,296       460,680       477,751      347,726
Sales of Securities                             546,422        89,937       356,702       59,559
Tax Accruals Caused by New Accounting Rules       ---              ---     (146,332)        ---
Total Earnings- All entities                   $1,189,718    $550,617      $688,121      $407,285
Lợi nhuận hoạt động                             Lợi nhuận trước thuế       Phần của Berkshire
(nghìn USD, lược 000)                            1993          1992          1993          1992
Khối Bảo hiểm:
   Nghiệp vụ bảo hiểm                           $30.876      $(108.961)     $20.156      $(71.141)
   Thu nhập đầu tư ròng                         375.946       355.067       321.321      305.763
H. H. Brown, Lowell và Dexter                   44.025*        27.883       28.829        17.340
Buffalo News                                     50.962        47.863        29.696       28.163
Tài chính thương mại và tiêu dùng                22.695        19.836        14.161       12.664
Fechheimer                                      13.442         13.698        6.931        7.267
Kirby                                            39.147        35.653       25.056        22.795
Nebraska Furniture Mart                          21.540        17.110        10.398       8.072
Scott Fetzer Manufacturing Group                38.196         31.954       23.809        19.883
See’s Candies                                   41.150         42.357       24.367        25.501
World Book                                       19.915        29.044       13.537        19.503
Điều chỉnh kế toán giá mua & lợi thế thương mại (17.033)      (12.087)      (13.996)     (13.070)
Chi phí lãi vay**                               (56.545)      (98.643)      (35.614)     (62.899)
Đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định           (9.448)       (7.634)       (5.994)       (4.913)
Khác                                             28.428        56.540       15.094        32.798
Lợi nhuận hoạt động                             643.296       460.680       477.751      347.726
Bán chứng khoán                                 546.422        89.937       356.702       59.559
Thuế trích trước do quy tắc kế toán mới           ---              ---     (146.332)        ---
Tổng lợi nhuận – Toàn bộ các đơn vị            $1.189.718    $550.617      $688.121      $407.285

* Includes Dexter's earnings only from the date it was acquired, November 7, 1993.

* Chỉ bao gồm lợi nhuận của Dexter kể từ ngày công ty được mua lại, ngày 7 tháng 11 năm 1993.

**Excludes interest expense of Commercial and Consumer Finance businesses. In 1992 includes $22.5 million of premiums paid on the early redemption of debt.

**Không bao gồm chi phí lãi vay của các mảng Tài chính thương mại và tiêu dùng. Năm 1992 bao gồm 22,5 triệu USD phần trả thêm khi mua lại nợ trước hạn.

A large amount of information about these businesses is given on pages 38-49, where you will also find our segment earnings reported on a GAAP basis. In addition, on pages 52-59, we have rearranged Berkshire's financial data into four segments on a non-GAAP basis, a presentation that corresponds to the way Charlie and I think about the company. Our intent is to supply you with the financial information that we would wish you to give us if our positions were reversed.

Rất nhiều thông tin về các doanh nghiệp này được trình bày ở các trang 38-49, nơi các bạn cũng sẽ thấy lợi nhuận theo bộ phận (segment earnings) của chúng ta được báo cáo trên cơ sở GAAP. Ngoài ra, ở các trang 52-59, chúng tôi đã sắp xếp lại dữ liệu tài chính của Berkshire thành bốn bộ phận trên cơ sở không theo GAAP, một cách trình bày tương ứng với cách Charlie và tôi nghĩ về công ty. Ý định của chúng tôi là cung cấp cho các bạn những thông tin tài chính mà chúng tôi mong các bạn cung cấp cho chúng tôi nếu vị trí của chúng ta đổi ngược cho nhau.

"Look-Through" Earnings

Lợi nhuận "xuyên thấu"

We've previously discussed look-through earnings, which we believe more accurately portray the earnings of Berkshire than does our GAAP result. As we calculate them, look-through earnings consist of: (1) the operating earnings reported in the previous section, plus; (2) the retained operating earnings of major investees that, under GAAP accounting, are not reflected in our profits, less; (3) an allowance for the tax that would be paid by Berkshire if these retained earnings of investees had instead been distributed to us. The "operating earnings" of which we speak here exclude capital gains, special accounting items and major restructuring charges.

Trước đây chúng tôi đã bàn về lợi nhuận xuyên thấu (look-through earnings), thứ mà chúng tôi tin là phản ánh lợi nhuận của Berkshire chính xác hơn so với kết quả theo GAAP của chúng ta. Theo cách chúng tôi tính, lợi nhuận xuyên thấu bao gồm: (1) lợi nhuận hoạt động được báo cáo ở mục trước, cộng; (2) lợi nhuận hoạt động giữ lại của các công ty được đầu tư (investees) lớn mà, theo kế toán GAAP, không được phản ánh trong lợi nhuận của chúng ta, trừ; (3) một khoản dự tính cho số thuế mà Berkshire lẽ ra phải nộp nếu thay vào đó phần lợi nhuận giữ lại này của các công ty được đầu tư được phân phối cho chúng ta. "Lợi nhuận hoạt động" mà chúng tôi nói đến ở đây không bao gồm lãi vốn (capital gains), các khoản mục kế toán đặc biệt và các khoản chi phí tái cấu trúc lớn.

Over time, our look-through earnings need to increase at about 15% annually if our intrinsic value is to grow at that rate. Last year, I explained that we had to increase these earnings to about $1.8 billion in the year 2000, were we to meet the 15% goal. Because we issued additional shares in 1993, the amount needed has risen to about $1.85 billion.

Theo thời gian, lợi nhuận xuyên thấu của chúng ta cần tăng khoảng 15% mỗi năm nếu giá trị nội tại của chúng ta muốn tăng trưởng với tốc độ đó. Năm ngoái, tôi đã giải thích rằng chúng ta phải tăng mức lợi nhuận này lên khoảng 1,8 tỷ USD vào năm 2000 nếu muốn đạt mục tiêu 15%. Vì chúng ta đã phát hành thêm cổ phiếu trong năm 1993, con số cần đạt đã tăng lên khoảng 1,85 tỷ USD.

That is a tough goal, but one that we expect you to hold us to. In the past, we've criticized the managerial practice of shooting the arrow of performance and then painting the target, centering it on whatever point the arrow happened to hit. We will instead risk embarrassment by painting first and shooting later.

Đó là một mục tiêu khó, nhưng là mục tiêu mà chúng tôi mong các bạn buộc chúng tôi phải giữ đúng. Trong quá khứ, chúng tôi đã chỉ trích cách làm của giới quản lý là bắn mũi tên thành tích rồi mới vẽ bia, đặt tâm bia vào bất cứ điểm nào mà mũi tên tình cờ cắm vào. Thay vào đó, chúng tôi sẽ chấp nhận rủi ro bị bẽ mặt bằng cách vẽ bia trước, bắn sau.

If we are to hit the bull's-eye, we will need markets that allow the purchase of businesses and securities on sensible terms. Right now, markets are difficult, but they can - and will - change in unexpected ways and at unexpected times. In the meantime, we'll try to resist the temptation to do something marginal simply because we are long on cash. There's no use running if you're on the wrong road.

Nếu muốn bắn trúng hồng tâm, chúng ta sẽ cần những thị trường cho phép mua doanh nghiệp và chứng khoán với những điều kiện hợp lý. Hiện tại, thị trường đang khó khăn, nhưng chúng có thể - và sẽ - thay đổi theo những cách bất ngờ và vào những thời điểm bất ngờ. Trong khi chờ đợi, chúng tôi sẽ cố gắng cưỡng lại cám dỗ làm một việc chỉ ở mức tạm chấp nhận được chỉ vì chúng ta đang dư dả tiền mặt. Chạy cũng chẳng ích gì nếu đang đi sai đường.

The following table shows how we calculate look-through earnings, though I warn you that the figures are necessarily very rough. (The dividends paid to us by these investees have been included in the operating earnings itemized on page 8, mostly under "Insurance Group: Net Investment Income.")

Bảng sau đây cho thấy cách chúng tôi tính lợi nhuận xuyên thấu, dù tôi xin cảnh báo các bạn rằng các con số tất yếu chỉ là ước lượng rất thô. (Cổ tức mà các công ty được đầu tư này trả cho chúng ta đã được tính vào lợi nhuận hoạt động liệt kê chi tiết ở trang 8, phần lớn nằm ở mục "Khối Bảo hiểm: Thu nhập đầu tư ròng.")

Berkshire’s Major Investees           Berkshire’s   Approximate at    Berkshire’s     Share of
                                      Ownership        Yearend       Undistributed   Operating
                                                                                      Earnings
                                         1993           1992             1993            1992
Capitla Cities / ABC Inc.               13.0%           18.2%           $83 (2)           $70
The Coca-Cola Company                    7.2%           7.1%              94              82
Federal Home Loan Mortgage Corp.       6.8% (1)        8.2% (1)         41 (2)           29 (2)
GEICO Corp.                             48.4%           48.1%           76 (3)           34 (3)
General Dynamics Corp.                  13.9%           14.1%             25             11 (2)
The Gillette Compnay                    10.9%           10.9%             44              38
Guinness PLC                             1.9%           2.0%              8                7
The Washington Post Company             14.8%           14.6%             15              11
Wells Fargo & Company                   12.2%           11.5%           53 (2)           16 (2)

Berkshire’s share of undistributed
                                                                         $439            $298
earnings of major investees
Hypothetical tax on these                                                (61)            (42)
undistributed investee earnings (4)
Reported operating earnings of                                           478              348
Berkshire
Total look-through earnings of
                                                                         $856            $516
Bekrshire
Các công ty được đầu tư lớn           Tỷ lệ sở hữu xấp xỉ của         Phần của Berkshire trong
của Berkshire                         Berkshire vào cuối năm          lợi nhuận hoạt động
                                                                      chưa phân phối
                                         1993           1992             1993            1992
Capital Cities / ABC Inc.               13,0%           18,2%           $83 (2)           $70
The Coca-Cola Company                    7,2%           7,1%              94              82
Federal Home Loan Mortgage Corp.       6,8% (1)        8,2% (1)         41 (2)           29 (2)
GEICO Corp.                             48,4%           48,1%           76 (3)           34 (3)
General Dynamics Corp.                  13,9%           14,1%             25             11 (2)
The Gillette Company                    10,9%           10,9%             44              38
Guinness PLC                             1,9%           2,0%              8                7
The Washington Post Company             14,8%           14,6%             15              11
Wells Fargo & Company                   12,2%           11,5%           53 (2)           16 (2)

Phần của Berkshire trong lợi nhuận chưa
                                                                         $439            $298
phân phối của các công ty được đầu tư lớn
Thuế giả định trên lợi nhuận chưa phân phối                              (61)            (42)
của các công ty được đầu tư này (4)
Lợi nhuận hoạt động báo cáo của                                          478              348
Berkshire
Tổng lợi nhuận xuyên thấu của
                                                                         $856            $516
Berkshire

(1) Does not include shares allocable to the minority interest at Wesco

(1) Không bao gồm số cổ phiếu phân bổ cho lợi ích của cổ đông thiểu số (minority interest) tại Wesco

(2) Calculated on average ownership for the year

(2) Tính trên tỷ lệ sở hữu bình quân trong năm

(3) Excludes realized capital gains, which have been both recurring and significant

(3) Không bao gồm lãi vốn đã thực hiện (realized capital gains), vốn vừa thường xuyên lặp lại vừa đáng kể

(4) The tax rate used is 14%, which is the rate Berkshire pays on the dividends it receives

(4) Thuế suất được sử dụng là 14%, là thuế suất mà Berkshire phải nộp trên cổ tức nhận được

We have told you that we expect the undistributed, hypothetically-taxed earnings of our investees to produce at least equivalent gains in Berkshire's intrinsic value. To date, we have far exceeded that expectation. For example, in 1986 we bought three million shares of Capital Cities/ABC for $172.50 per share and late last year sold one-third of that holding for $630 per share. After paying 35% capital gains taxes, we realized a $297 million profit from the sale. In contrast, during the eight years we held these shares, the retained earnings of Cap Cities attributable to them - hypothetically taxed at a lower 14% in accordance with our look-through method - were only $152 million. In other words, we paid a much larger tax bill than our look-through presentations to you have assumed and nonetheless realized a gain that far exceeded the undistributed earnings allocable to these shares.

Chúng tôi đã nói với các bạn rằng chúng tôi kỳ vọng phần lợi nhuận chưa phân phối (undistributed earnings), đã tính thuế giả định, của các công ty được đầu tư sẽ tạo ra mức tăng ít nhất tương đương trong giá trị nội tại của Berkshire. Cho đến nay, chúng ta đã vượt xa kỳ vọng đó. Ví dụ, năm 1986 chúng ta đã mua ba triệu cổ phiếu Capital Cities/ABC với giá 172,50 USD mỗi cổ phiếu và cuối năm ngoái đã bán một phần ba số cổ phiếu nắm giữ đó với giá 630 USD mỗi cổ phiếu. Sau khi nộp thuế lãi vốn 35%, chúng ta đã thu được khoản lãi đã thực hiện 297 triệu USD từ thương vụ bán này. Ngược lại, trong tám năm chúng ta nắm giữ số cổ phiếu này, phần lợi nhuận giữ lại của Cap Cities thuộc về số cổ phiếu đó - được tính thuế giả định ở mức thấp hơn là 14% theo phương pháp xuyên thấu của chúng tôi - chỉ là 152 triệu USD. Nói cách khác, chúng ta đã trả một hóa đơn thuế lớn hơn nhiều so với mức mà các bản trình bày xuyên thấu chúng tôi gửi các bạn đã giả định, và dù vậy vẫn thu được một khoản lãi vượt xa phần lợi nhuận chưa phân phối được phân bổ cho số cổ phiếu này.

We expect such pleasant outcomes to recur often in the future and therefore believe our look-through earnings to be a conservative representation of Berkshire's true economic earnings.

Chúng tôi kỳ vọng những kết quả dễ chịu như vậy sẽ thường xuyên lặp lại trong tương lai và vì thế tin rằng lợi nhuận xuyên thấu của chúng ta là một cách thể hiện thận trọng lợi nhuận kinh tế (economic earnings) thực sự của Berkshire.

Taxes

Thuế

As our Cap Cities sale emphasizes, Berkshire is a substantial payer of federal income taxes. In aggregate, we will pay 1993 federal income taxes of $390 million, about $200 million of that attributable to operating earnings and $190 million to realized capital gains. Furthermore, our share of the 1993 federal and foreign income taxes paid by our investees is well over $400 million, a figure you don't see on our financial statements but that is nonetheless real. Directly and indirectly, Berkshire's 1993 federal income tax payments will be about 1/2 of 1% of the total paid last year by all American corporations.

Như thương vụ bán cổ phiếu Cap Cities của chúng ta cho thấy rõ, Berkshire là một bên nộp thuế thu nhập liên bang đáng kể. Tính tổng cộng, chúng ta sẽ nộp 390 triệu USD thuế thu nhập liên bang năm 1993, trong đó khoảng 200 triệu USD là từ lợi nhuận hoạt động và 190 triệu USD từ lãi vốn đã thực hiện. Hơn nữa, phần của chúng ta trong số thuế thu nhập liên bang và nước ngoài năm 1993 mà các công ty được đầu tư đã nộp là hơn hẳn 400 triệu USD, một con số các bạn không thấy trên báo cáo tài chính của chúng ta nhưng dù vậy vẫn là có thật. Cả trực tiếp lẫn gián tiếp, số thuế thu nhập liên bang năm 1993 mà Berkshire nộp sẽ vào khoảng 1/2 của 1% tổng số thuế mà toàn bộ các công ty Mỹ đã nộp năm ngoái.

Speaking for our own shares, Charlie and I have absolutely no complaint about these taxes. We know we work in a market-based economy that rewards our efforts far more bountifully than it does the efforts of others whose output is of equal or greater benefit to society. Taxation should, and does, partially redress this inequity. But we still remain extraordinarily well-treated.

Nói về phần cổ phần của riêng mình, Charlie và tôi hoàn toàn không có lời phàn nàn nào về các khoản thuế này. Chúng tôi biết mình làm việc trong một nền kinh tế thị trường vốn trả công cho nỗ lực của chúng tôi hậu hĩnh hơn rất nhiều so với nỗ lực của những người khác mà sản phẩm lao động của họ mang lại lợi ích ngang bằng hoặc lớn hơn cho xã hội. Thuế cần, và quả thực đã, phần nào khắc phục sự bất công này. Nhưng chúng tôi vẫn được đối xử đặc biệt tử tế.

Berkshire and its shareholders, in combination, would pay a much smaller tax if Berkshire operated as a partnership or "S" corporation, two structures often used for business activities.

Berkshire và các cổ đông của mình, tính gộp lại, sẽ nộp ít thuế hơn nhiều nếu Berkshire hoạt động dưới hình thức công ty hợp danh hoặc công ty "S" (S corporation — loại hình công ty chỉ chịu thuế ở cấp cổ đông theo luật thuế Mỹ), hai cấu trúc thường được dùng cho các hoạt động kinh doanh.

For a variety of reasons, that's not feasible for Berkshire to do. However, the penalty our corporate form imposes is mitigated - though far from eliminated - by our strategy of investing for the long term. Charlie and I would follow a buy-and-hold policy even if we ran a tax-exempt institution. We think it the soundest way to invest, and it also goes down the grain of our personalities. A third reason to favor this policy, however, is the fact that taxes are due only when gains are realized.

Vì nhiều lý do khác nhau, Berkshire không thể làm như vậy. Tuy nhiên, khoản thiệt hại mà hình thức công ty của chúng ta áp đặt được giảm nhẹ - dù còn lâu mới được loại bỏ - nhờ chiến lược đầu tư dài hạn của chúng ta. Charlie và tôi vẫn sẽ theo đuổi chính sách mua và nắm giữ (buy-and-hold) ngay cả khi chúng tôi điều hành một tổ chức được miễn thuế (tax-exempt). Chúng tôi cho rằng đó là cách đầu tư vững chắc nhất, và cách này cũng thuận theo bản tính của chúng tôi. Tuy nhiên, lý do thứ ba để ưu tiên chính sách này là thực tế rằng thuế chỉ đến hạn phải nộp khi khoản lãi được thực hiện.

Through my favorite comic strip, Li'l Abner, I got a chance during my youth to see the benefits of delayed taxes, though I missed the lesson at the time. Making his readers feel superior, Li'l Abner bungled happily, but moronically, through life in Dogpatch. At one point he became infatuated with a New York temptress, Appassionatta Van Climax, but despaired of marrying her because he had only a single silver dollar and she was interested solely in millionaires. Dejected, Abner took his problem to Old Man Mose, the font of all knowledge in Dogpatch. Said the sage: Double your money 20 times and Appassionatta will be yours (1, 2, 4, 8 . . . . 1,048,576).

Qua bộ truyện tranh tôi yêu thích, Li'l Abner, thời trẻ tôi đã có dịp thấy lợi ích của việc hoãn thuế, dù lúc đó tôi đã bỏ lỡ bài học. Khiến độc giả của mình cảm thấy mình hơn người, Li'l Abner sống một cuộc đời lóng ngóng hỏng việc một cách vui vẻ, nhưng ngờ nghệch, ở Dogpatch. Có lúc anh ta mê mẩn một mỹ nhân quyến rũ ở New York, Appassionatta Van Climax, nhưng tuyệt vọng chuyện cưới nàng vì anh ta chỉ có duy nhất một đồng đô-la bạc còn nàng thì chỉ quan tâm đến các triệu phú. Chán nản, Abner mang vấn đề của mình đến hỏi Old Man Mose, nguồn mọi tri thức ở Dogpatch. Nhà hiền triết phán: Hãy nhân đôi số tiền của cậu 20 lần và Appassionatta sẽ là của cậu (1, 2, 4, 8 . . . . 1.048.576).

My last memory of the strip is Abner entering a roadhouse, dropping his dollar into a slot machine, and hitting a jackpot that spilled money all over the floor. Meticulously following Mose's advice, Abner picked up two dollars and went off to find his next double. Whereupon I dumped Abner and began reading Ben Graham.

Ký ức cuối cùng của tôi về bộ truyện là cảnh Abner bước vào một quán ven đường, thả đồng đô-la của mình vào một máy đánh bạc, và trúng giải độc đắc khiến tiền tràn khắp sàn. Tỉ mỉ làm đúng theo lời khuyên của Mose, Abner nhặt lấy hai đô-la rồi đi tìm lần nhân đôi tiếp theo. Ngay sau đó tôi bỏ Abner và bắt đầu đọc Ben Graham.

Mose clearly was overrated as a guru: Besides failing to anticipate Abner's slavish obedience to instructions, he also forgot about taxes. Had Abner been subject, say, to the 35% federal tax rate that Berkshire pays, and had he managed one double annually, he would after 20 years only have accumulated $22,370. Indeed, had he kept on both getting his annual doubles and paying a 35% tax on each, he would have needed 7 1/2 years more to reach the $1 million required to win Appassionatta.

Mose rõ ràng đã được đánh giá quá cao trong vai trò bậc thầy: Ngoài việc không lường trước sự răm rắp tuân theo chỉ dẫn của Abner, ông ta còn quên mất thuế. Giả sử Abner phải chịu, chẳng hạn, mức thuế suất liên bang 35% mà Berkshire phải nộp, và giả sử anh ta xoay xở nhân đôi được một lần mỗi năm, thì sau 20 năm anh ta sẽ chỉ tích lũy được 22.370 USD. Thật vậy, nếu anh ta cứ tiếp tục vừa nhân đôi mỗi năm vừa nộp thuế 35% trên mỗi lần nhân đôi, anh ta sẽ cần thêm 7 1/2 năm nữa mới đạt được 1 triệu USD cần thiết để chinh phục Appassionatta.

But what if Abner had instead put his dollar in a single investment and held it until it doubled the same 27 1/2 times? In that case, he would have realized about $200 million pre-tax or, after paying a $70 million tax in the final year, about $130 million after-tax. For that, Appassionatta would have crawled to Dogpatch. Of course, with 27 1/2 years having passed, how Appassionatta would have looked to a fellow sitting on $130 million is another question.

Nhưng sẽ ra sao nếu thay vào đó Abner đặt đồng đô-la của mình vào một khoản đầu tư duy nhất và nắm giữ nó cho đến khi khoản đầu tư đó nhân đôi cũng 27 1/2 lần như thế? Trong trường hợp đó, anh ta sẽ thu được khoảng 200 triệu USD trước thuế hoặc, sau khi nộp 70 triệu USD tiền thuế vào năm cuối cùng, khoảng 130 triệu USD sau thuế. Với chừng đó, Appassionatta hẳn sẽ bò đến tận Dogpatch. Tất nhiên, khi 27 1/2 năm đã trôi qua, Appassionatta trông sẽ ra sao trong mắt một gã đang ngồi trên 130 triệu USD lại là một câu hỏi khác.

What this little tale tells us is that tax-paying investors will realize a far, far greater sum from a single investment that compounds internally at a given rate than from a succession of investments compounding at the same rate. But I suspect many Berkshire shareholders figured that out long ago.

Điều mà câu chuyện nhỏ này cho chúng ta biết là các nhà đầu tư phải nộp thuế sẽ thu về một khoản tiền lớn hơn rất, rất nhiều từ một khoản đầu tư duy nhất tăng trưởng kép nội tại ở một tỷ lệ nhất định so với từ một chuỗi các khoản đầu tư nối tiếp nhau tăng trưởng kép ở cùng tỷ lệ đó. Nhưng tôi ngờ rằng nhiều cổ đông Berkshire đã nhận ra điều đó từ lâu.

Insurance Operations

Hoạt động bảo hiểm

At this point in the report we've customarily provided you with a table showing the annual "combined ratio" of the insurance industry for the preceding decade. This ratio compares total insurance costs (losses incurred plus expenses) to revenue from premiums. For many years, the ratio has been above 100, a level indicating an underwriting loss. That is, the industry has taken in less money each year from its policyholders than it has had to pay for operating expenses and for loss events that occurred during the year.

Đến đoạn này của báo cáo, chúng tôi thường theo lệ cung cấp cho các bạn một bảng thể hiện "tỷ lệ kết hợp (combined ratio)" hằng năm của ngành bảo hiểm trong thập kỷ trước đó. Tỷ lệ này so sánh tổng chi phí bảo hiểm (tổn thất phát sinh cộng chi phí) với doanh thu từ phí bảo hiểm. Trong nhiều năm, tỷ lệ này đã ở trên 100, một mức cho thấy lỗ nghiệp vụ bảo hiểm (underwriting). Nghĩa là, mỗi năm ngành này thu từ bên mua bảo hiểm ít tiền hơn số tiền phải chi cho chi phí hoạt động và cho các sự kiện tổn thất xảy ra trong năm.

Offsetting this grim equation is a happier fact: Insurers get to hold on to their policyholders' money for a time before paying it out. This happens because most policies require that premiums be prepaid and, more importantly, because it often takes time to resolve loss claims. Indeed, in the case of certain lines of insurance, such as product liability or professional malpractice, many years may elapse between the loss event and payment.

Bù lại phương trình ảm đạm này là một thực tế dễ chịu hơn: Các công ty bảo hiểm được giữ tiền của bên mua bảo hiểm trong một thời gian trước khi chi trả. Điều này xảy ra vì phần lớn các đơn bảo hiểm yêu cầu phí bảo hiểm phải được trả trước và, quan trọng hơn, vì thường cần thời gian để giải quyết các yêu cầu bồi thường tổn thất. Thật vậy, đối với một số nghiệp vụ bảo hiểm, như bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm (product liability) hay trách nhiệm nghề nghiệp (professional malpractice), nhiều năm có thể trôi qua giữa sự kiện tổn thất và việc chi trả.

To oversimplify the matter somewhat, the total of the funds prepaid by policyholders and the funds earmarked for incurred-but-not-yet-paid claims is called "the float." In the past, the industry was able to suffer a combined ratio of 107 to 111 and still break even from its insurance writings because of the earnings derived from investing this float.

Nói một cách hơi đơn giản hóa, tổng số tiền do bên mua bảo hiểm trả trước và số tiền dành cho các khoản bồi thường đã phát sinh nhưng chưa chi trả được gọi là "nguồn vốn trôi nổi (float)". Trước đây, ngành này có thể chịu tỷ lệ kết hợp từ 107 đến 111 mà vẫn hòa vốn từ các hợp đồng đã khai thác nhờ thu nhập có được từ việc đầu tư nguồn vốn trôi nổi này.

As interest rates have fallen, however, the value of float has substantially declined. Therefore, the data that we have provided in the past are no longer useful for year-to-year comparisons of industry profitability. A company writing at the same combined ratio now as in the 1980's today has a far less attractive business than it did then.

Tuy nhiên, khi lãi suất giảm, giá trị của nguồn vốn trôi nổi đã sụt giảm đáng kể. Vì vậy, dữ liệu chúng tôi cung cấp trước đây không còn hữu ích cho việc so sánh khả năng sinh lời của ngành qua từng năm. Một công ty hiện khai thác ở cùng tỷ lệ kết hợp như trong thập niên 1980 thì ngày nay có một mảng kinh doanh kém hấp dẫn hơn nhiều so với hồi đó.

Only by making an analysis that incorporates both underwriting results and the current risk-free earnings obtainable from float can one evaluate the true economics of the business that a property-casualty insurer writes. Of course, the actual investment results that an insurer achieves from the use of both float and stockholders' funds is also of major importance and should be carefully examined when an investor is assessing managerial performance. But that should be a separate analysis from the one we are discussing here. The value of float funds - in effect, their transfer price as they move from the insurance operation to the investment operation - should be determined simply by the risk-free, long-term rate of interest.

Chỉ bằng cách thực hiện một phân tích kết hợp cả kết quả nghiệp vụ bảo hiểm lẫn thu nhập phi rủi ro (risk-free earnings) hiện có thể thu được từ nguồn vốn trôi nổi, người ta mới có thể đánh giá được bản chất kinh tế thực sự của mảng nghiệp vụ mà một công ty bảo hiểm tài sản và trách nhiệm (property-casualty) khai thác. Tất nhiên, kết quả đầu tư thực tế mà một công ty bảo hiểm đạt được từ việc sử dụng cả nguồn vốn trôi nổi lẫn vốn của cổ đông cũng có tầm quan trọng lớn và cần được xem xét kỹ khi một nhà đầu tư đánh giá thành tích của ban quản lý. Nhưng đó phải là một phân tích riêng, tách khỏi phân tích mà chúng ta đang bàn ở đây. Giá trị của nguồn vốn trôi nổi - thực chất là giá chuyển giao nội bộ (transfer price) của khoản vốn này khi chuyển từ hoạt động bảo hiểm sang hoạt động đầu tư - cần được xác định đơn giản bằng lãi suất dài hạn phi rủi ro (risk-free, long-term rate of interest).

On the next page we show the numbers that count in an evaluation of Berkshire's insurance business. We calculate our float - which we generate in exceptional amounts relative to our premium volume - by adding loss reserves, loss adjustment reserves and unearned premium reserves and then subtracting agent's balances, prepaid acquisition costs and deferred charges applicable to assumed reinsurance. Our cost of float is determined by our underwriting loss or profit. In those years when we have had an underwriting profit, which includes 1993, our cost of float has been negative, and we have determined our insurance earnings by adding underwriting profit to float income.

Ở trang sau, chúng tôi trình bày các con số có ý nghĩa trong việc đánh giá mảng bảo hiểm của Berkshire. Chúng tôi tính nguồn vốn trôi nổi của mình - thứ mà chúng ta tạo ra với quy mô đặc biệt lớn so với doanh thu phí bảo hiểm - bằng cách cộng dự phòng bồi thường (loss reserves), dự phòng chi phí giải quyết bồi thường (loss adjustment reserves) và dự phòng phí chưa được hưởng (unearned premium reserves), rồi trừ đi số dư phải thu từ đại lý, chi phí khai thác trả trước (prepaid acquisition costs) và chi phí chờ phân bổ liên quan đến tái bảo hiểm nhận (assumed reinsurance). Chi phí của nguồn vốn trôi nổi (cost of float) của chúng ta được xác định bởi khoản lỗ hoặc lãi nghiệp vụ bảo hiểm. Trong những năm chúng ta có lãi nghiệp vụ bảo hiểm, trong đó có năm 1993, chi phí của nguồn vốn trôi nổi của chúng ta là âm, và chúng tôi xác định lợi nhuận bảo hiểm của mình bằng cách cộng lãi nghiệp vụ bảo hiểm vào thu nhập từ nguồn vốn trôi nổi.

   (in $ Millions)   (1) Underwriting   (2) Average Float   Approximate     Yearend Yield on Long-
                          Loss                              Cost of Funds     Term Govt. Bonds

         1967             Profit             $17.3               <0                 5.50%
         1968             Profit              19.9               <0                 5.90%
         1969             Profit              23.4               <0                 6.79%
         1970             $0.37               32.4             1.14%                6.25%
         1971             Profit              52.5               <0                 5.81%
         1972             Profit              69.5               <0                 5.82%
         1973             Profit              73.3               <0                 7.27%
         1974              7.36               79.1             9.30%                8.13%
         1975             11.35               87.6             12.96%               8.03%
         1976             Profit             102.6               <0                 7.30%
         1977             Profit             139.0               <0                 7.97%
         1978             Profit             190.4               <0                 8.93%
         1979             Profit             227.3               <0                10.08%
         1980             Profit             237.0               <0                11.94%
         1981             Profit             228.4               <0                13.61%
         1982             21.56              220.6             9.77%               10.64%
         1983             33.87              231.3             14.64%              11.84%
         1984             48.06              253.2             18.98%              11.58%
         1985             44.23              390.2             11.34%               9.34%
         1986             55.84              797.5             7.00%                7.60%
         1987             55.43              1,266.7           4.38%                8.95%
         1988             11.08              1,497.7           0.74%                9.00%
         1989             24.40              1,541.3           1.58%                7.97%
         1990             26.65              1,637.3           1.63%                8.24%
         1991             119.6              1,895.0           6.31%                7.40%
         1992             108.9              2,290.4           4.76%                7.39%
         1993             Profit             2,624.7             <0                 6.35%
   (triệu USD)       (1) Lỗ nghiệp vụ   (2) Nguồn vốn       Chi phí vốn     Lợi suất cuối năm của TP
                          bảo hiểm          trôi nổi BQ     ước tính        Chính phủ dài hạn

         1967             Lãi                $17,3               <0                 5,50%
         1968             Lãi                 19,9               <0                 5,90%
         1969             Lãi                 23,4               <0                 6,79%
         1970             $0,37               32,4             1,14%                6,25%
         1971             Lãi                 52,5               <0                 5,81%
         1972             Lãi                 69,5               <0                 5,82%
         1973             Lãi                 73,3               <0                 7,27%
         1974              7,36               79,1             9,30%                8,13%
         1975             11,35               87,6             12,96%               8,03%
         1976             Lãi                102,6               <0                 7,30%
         1977             Lãi                139,0               <0                 7,97%
         1978             Lãi                190,4               <0                 8,93%
         1979             Lãi                227,3               <0                10,08%
         1980             Lãi                237,0               <0                11,94%
         1981             Lãi                228,4               <0                13,61%
         1982             21,56              220,6             9,77%               10,64%
         1983             33,87              231,3             14,64%              11,84%
         1984             48,06              253,2             18,98%              11,58%
         1985             44,23              390,2             11,34%               9,34%
         1986             55,84              797,5             7,00%                7,60%
         1987             55,43              1.266,7           4,38%                8,95%
         1988             11,08              1.497,7           0,74%                9,00%
         1989             24,40              1.541,3           1,58%                7,97%
         1990             26,65              1.637,3           1,63%                8,24%
         1991             119,6              1.895,0           6,31%                7,40%
         1992             108,9              2.290,4           4,76%                7,39%
         1993             Lãi                2.624,7             <0                 6,35%

As you can see, in our insurance operation last year we had the use of $2.6 billion at no cost; in fact we were paid $31 million, our underwriting profit, to hold these funds. This sounds good - is good - but is far from as good as it sounds.

Như các bạn có thể thấy, năm ngoái trong hoạt động bảo hiểm, chúng ta được sử dụng 2,6 tỷ USD mà không mất chi phí; thực tế chúng ta còn được trả 31 triệu USD, chính là lãi nghiệp vụ bảo hiểm của chúng ta, để giữ số tiền này. Điều này nghe thì hay - và quả là hay - nhưng còn lâu mới hay như nghe có vẻ.

We temper our enthusiasm because we write a large volume of "super-cat" policies (which other insurance and reinsurance companies buy to recover part of the losses they suffer from mega-catastrophes) and because last year we had no losses of consequence from this activity. As that suggests, the truly catastrophic Midwestern floods of 1993 did not trigger super-cat losses, the reason being that very few flood policies are purchased from private insurers.

Chúng tôi kiềm chế sự hào hứng của mình vì chúng ta khai thác một khối lượng lớn các đơn "tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn (super-cat)" (loại đơn mà các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm khác mua để bù đắp một phần tổn thất họ phải gánh chịu từ các đại thảm họa) và vì năm ngoái chúng ta không có tổn thất đáng kể nào từ hoạt động này. Như điều đó cho thấy, trận lũ thực sự thảm khốc ở vùng Trung Tây năm 1993 đã không kích hoạt tổn thất tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn, lý do là rất ít đơn bảo hiểm lũ lụt được mua từ các công ty bảo hiểm tư nhân.

It would be fallacious, however, to conclude from this single-year result that the super-cat business is a wonderful one, or even a satisfactory one. A simple example will illustrate the fallacy: Suppose there is an event that occurs 25 times in every century. If you annually give 5-for-1 odds against its occurrence that year, you will have many more winning years than losers. Indeed, you may go a straight six, seven or more years without loss. You also will eventually go broke.

Tuy nhiên, sẽ là ngụy biện nếu từ kết quả của một năm duy nhất này mà kết luận rằng mảng tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn là một mảng kinh doanh tuyệt vời, hay thậm chí chỉ là thỏa đáng. Một ví dụ đơn giản sẽ minh họa cho sự ngụy biện đó: Giả sử có một sự kiện xảy ra 25 lần trong mỗi thế kỷ. Nếu hằng năm các bạn nhận cược với tỷ lệ 5 ăn 1 rằng sự kiện đó sẽ không xảy ra trong năm, các bạn sẽ có nhiều năm thắng hơn hẳn số năm thua. Thật vậy, các bạn có thể đi liền sáu, bảy năm hoặc hơn mà không thua. Rồi cuối cùng các bạn cũng sẽ phá sản.

At Berkshire, we naturally believe we are obtaining adequate premiums and giving more like 3 1/2-for-1 odds. But there is no way for us - or anyone else - to calculate the true odds on super-cat coverages. In fact, it will take decades for us to find out whether our underwriting judgment has been sound.

Tại Berkshire, đương nhiên chúng tôi tin rằng chúng ta đang thu được mức phí bảo hiểm thỏa đáng và đưa ra tỷ lệ cược gần với mức 3 1/2 ăn 1 hơn. Nhưng chúng ta - hay bất kỳ ai khác - không có cách nào tính được tỷ lệ cược thực sự đối với các hợp đồng tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn. Trên thực tế, sẽ phải mất hàng thập kỷ chúng ta mới biết được liệu phán đoán nhận bảo hiểm của mình có đúng đắn hay không.

What we do know is that when a loss comes, it's likely to be a lulu. There may well be years when Berkshire will suffer losses from the super-cat business equal to three or four times what we earned from it in 1993. When Hurricane Andrew blew in 1992, we paid out about $125 million. Because we've since expanded our super-cat business, a similar storm today could cost us $600 million.

Điều chúng tôi biết là khi tổn thất xảy đến, nhiều khả năng đó sẽ là một cú trời giáng. Rất có thể sẽ có những năm Berkshire phải gánh tổn thất từ mảng tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn bằng ba hoặc bốn lần số tiền chúng ta kiếm được từ mảng này năm 1993. Khi bão Andrew ập đến năm 1992, chúng ta đã chi trả khoảng 125 triệu USD. Vì từ đó đến nay chúng ta đã mở rộng mảng tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn, một cơn bão tương tự ngày nay có thể khiến chúng ta tốn 600 triệu USD.

So far, we have been lucky in 1994. As I write this letter, we are estimating that our losses from the Los Angeles earthquake will be nominal. But if the quake had been a 7.5 instead of a 6.8, it would have been a different story.

Cho đến giờ, chúng ta đã gặp may trong năm 1994. Khi tôi viết lá thư này, chúng tôi đang ước tính rằng tổn thất của chúng ta từ trận động đất Los Angeles sẽ không đáng kể. Nhưng nếu trận động đất có cường độ 7,5 thay vì 6,8 thì câu chuyện đã khác hẳn.

Berkshire is ideally positioned to write super-cat policies. In Ajit Jain, we have by far the best manager in this business. Additionally, companies writing these policies need enormous capital, and our net worth is ten to twenty times larger than that of our main competitors. In most lines of insurance, huge resources aren't that important: An insurer can diversify the risks it writes and, if necessary, can lay off risks to reduce concentration in its portfolio. That isn't possible in the super-cat business. So these competitors are forced into offering far smaller limits than those we can provide. Were they bolder, they would run the risk that a mega-catastrophe - or a confluence of smaller catastrophes - would wipe them out.

Berkshire ở vị thế lý tưởng để khai thác các đơn tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn (super-cat policies). Ở Ajit Jain, chúng ta có nhà quản lý giỏi nhất, bỏ xa mọi người khác, trong mảng kinh doanh này. Ngoài ra, các công ty khai thác loại đơn bảo hiểm này cần nguồn vốn khổng lồ, và giá trị tài sản ròng của chúng ta lớn gấp mười đến hai mươi lần so với giá trị tài sản ròng của các đối thủ cạnh tranh chính. Trong hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm, nguồn lực khổng lồ không quan trọng đến thế: Một công ty bảo hiểm có thể đa dạng hóa các rủi ro mình nhận bảo hiểm và, nếu cần, có thể nhượng tái (lay off risks) để giảm mức độ tập trung trong danh mục của mình. Điều đó là không thể trong mảng tái bảo hiểm thảm họa siêu lớn. Vì vậy, các đối thủ này buộc phải đưa ra hạn mức nhỏ hơn rất nhiều so với hạn mức mà chúng ta có thể cung cấp. Nếu táo bạo hơn, họ sẽ chịu rủi ro rằng một đại thảm họa - hoặc sự cộng dồn của nhiều thảm họa nhỏ hơn - sẽ xóa sổ họ.

One indication of our premier strength and reputation is that each of the four largest reinsurance companies in the world buys very significant reinsurance coverage from Berkshire.

Một dấu hiệu cho thấy sức mạnh và uy tín hàng đầu của chúng ta là mỗi công ty trong bốn công ty tái bảo hiểm lớn nhất thế giới đều mua mức bảo vệ tái bảo hiểm rất đáng kể từ Berkshire.

Better than anyone else, these giants understand that the test of a reinsurer is its ability and willingness to pay losses under trying circumstances, not its readiness to accept premiums when things look rosy.

Hơn ai hết, những gã khổng lồ này hiểu rằng phép thử đối với một nhà tái bảo hiểm là khả năng và sự sẵn lòng chi trả tổn thất trong những hoàn cảnh khó khăn, chứ không phải sự sẵn sàng nhận phí bảo hiểm khi mọi thứ trông có vẻ tươi sáng.

One caution: There has recently been a substantial increase in reinsurance capacity. Close to $5 billion of equity capital has been raised by reinsurers, almost all of them newly-formed entities. Naturally these new entrants are hungry to write business so that they can justify the projections they utilized in attracting capital. This new competition won't affect our 1994 operations; we're filled up there, primarily with business written in 1993. But we are now seeing signs of price deterioration. If this trend continues, we will resign ourselves to much-reduced volume, keeping ourselves available, though, for the large, sophisticated buyer who requires a super-cat insurer with large capacity and a sure ability to pay losses.

Một lời cảnh báo: Gần đây năng lực nhận tái bảo hiểm đã tăng lên đáng kể. Gần 5 tỷ USD vốn chủ sở hữu đã được các nhà tái bảo hiểm huy động, hầu hết trong số họ là các đơn vị mới thành lập. Đương nhiên những người mới gia nhập này đang khao khát khai thác hợp đồng bảo hiểm (write business) để có thể biện minh cho những dự phóng mà họ đã dùng khi thu hút vốn. Sự cạnh tranh mới này sẽ không ảnh hưởng đến hoạt động năm 1994 của chúng ta; chúng ta đã kín chỗ cho năm đó, chủ yếu với các hợp đồng đã khai thác trong năm 1993. Nhưng giờ đây chúng ta đang thấy dấu hiệu phí bảo hiểm suy giảm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, chúng ta sẽ cam chịu khối lượng giảm mạnh, tuy vậy vẫn luôn sẵn sàng phục vụ những khách hàng lớn, am hiểu, những người cần một nhà nhận bảo hiểm thảm họa siêu lớn có năng lực nhận bảo hiểm lớn và khả năng chắc chắn chi trả tổn thất.

In other areas of our insurance business, our home state operation, led by Rod Eldred; our workers' compensation business, headed by Brad Kinstler; our credit-card operation, managed by the Kizer family; and National Indemnity's traditional auto and general liability business, led by Don Wurster, all achieved excellent results. In combination, these four units produced a significant underwriting profit and substantial float.

Ở các mảng khác trong hoạt động bảo hiểm của chúng ta, mảng "nội bang" (home state) do Rod Eldred lãnh đạo; mảng bảo hiểm bồi thường cho người lao động (workers' compensation) do Brad Kinstler đứng đầu; mảng bảo hiểm thẻ tín dụng do gia đình Kizer quản lý; và mảng bảo hiểm ô tô truyền thống cùng bảo hiểm trách nhiệm chung (general liability) của National Indemnity, do Don Wurster lãnh đạo, đều đạt kết quả xuất sắc. Tính gộp lại, bốn đơn vị này đã tạo ra một khoản lãi nghiệp vụ bảo hiểm đáng kể và nguồn vốn trôi nổi lớn.

All in all, we have a first-class insurance business. Though its results will be highly volatile, this operation possesses an intrinsic value that exceeds its book value by a large amount - larger, in fact, than is the case at any other Berkshire business.

Nhìn chung, chúng ta có một mảng bảo hiểm hạng nhất. Dù kết quả của mảng này sẽ biến động rất mạnh, hoạt động này sở hữu giá trị nội tại vượt giá trị sổ sách của nó một khoản lớn - thực tế là lớn hơn mức chênh lệch ở bất kỳ doanh nghiệp nào khác của Berkshire.

Common Stock Investments

Các khoản đầu tư cổ phiếu phổ thông

Below we list our common stockholdings having a value of over $250 million. A small portion of these investments belongs to subsidiaries of which Berkshire owns less than 100%.

Dưới đây chúng tôi liệt kê các khoản nắm giữ cổ phiếu phổ thông có giá trị trên 250 triệu USD. Một phần nhỏ trong các khoản đầu tư này thuộc về các công ty con mà Berkshire sở hữu dưới 100%.

  Shares                      Company                           Cost               Market
                                                           (000’s omitted)    (000’s omitted)
3,000,000     Capital Cities/ABC, Inc.                        $345,000           $1,239,000
93,400,000 The Coca-Cola Company                              1,023,920           4,167,975
13,654,600 Federal Home Loan Mortgage Corp.                    307,505             681,023
              (“Freddie Mac”)
34,250,000 GEICO Corporation.                                  45,713             1,759,594
4,350,000     General Dynamics Corp                            94,938              401,287
24,000,000 The Gillette Company                                600,000            1,431,000
38,335,000 Guinness PLC                                        333,019             270,822
1,727,765     The Washington Post Company                       9,731              440,148
6,791,218     Wells Fargo & Company                            423,680             878,614
  Số cổ phiếu                 Công ty                           Giá gốc            Giá thị trường
                                                         (nghìn USD, lược 000) (nghìn USD, lược 000)
3.000.000     Capital Cities/ABC, Inc.                        $345.000           $1.239.000
93.400.000 The Coca-Cola Company                              1.023.920           4.167.975
13.654.600 Federal Home Loan Mortgage Corp.                    307.505             681.023
              (“Freddie Mac”)
34.250.000 GEICO Corporation.                                  45.713             1.759.594
4.350.000     General Dynamics Corp                            94.938              401.287
24.000.000 The Gillette Company                                600.000            1.431.000
38.335.000 Guinness PLC                                        333.019             270.822
1.727.765     The Washington Post Company                       9.731              440.148
6.791.218     Wells Fargo & Company                            423.680             878.614

Considering the similarity of this year's list and the last, you may decide your management is hopelessly comatose. But we continue to think that it is usually foolish to part with an interest in a business that is both understandable and durably wonderful. Business interests of that kind are simply too hard to replace.

Xét đến sự tương đồng giữa danh sách năm nay và danh sách năm ngoái, các bạn có thể kết luận rằng ban quản lý của mình đã hôn mê vô phương cứu chữa. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục cho rằng thường là dại dột khi rời bỏ phần sở hữu trong một doanh nghiệp vừa dễ hiểu vừa tuyệt vời một cách bền vững. Những phần sở hữu doanh nghiệp thuộc loại đó đơn giản là quá khó để thay thế.

Interestingly, corporate managers have no trouble understanding that point when they are focusing on a business they operate: A parent company that owns a subsidiary with superb long-term economics is not likely to sell that entity regardless of price. "Why," the CEO would ask, "should I part with my crown jewel?" Yet that same CEO, when it comes to running his personal investment portfolio, will offhandedly - and even impetuously - move from business to business when presented with no more than superficial arguments by his broker for doing so. The worst of these is perhaps, "You can't go broke taking a profit." Can you imagine a CEO using this line to urge his board to sell a star subsidiary? In our view, what makes sense in business also makes sense in stocks: An investor should ordinarily hold a small piece of an outstanding business with the same tenacity that an owner would exhibit if he owned all of that business.

Điều thú vị là các nhà quản lý doanh nghiệp không gặp khó khăn gì trong việc hiểu điểm đó khi họ tập trung vào một doanh nghiệp mà họ điều hành: Một công ty mẹ sở hữu một công ty con có đặc tính kinh tế dài hạn tuyệt vời khó có thể bán đơn vị đó bất kể giá nào. "Tại sao," vị CEO sẽ hỏi, "tôi lại phải rời bỏ viên ngọc quý trên vương miện của mình?" Thế nhưng cũng chính vị CEO đó, khi điều hành danh mục đầu tư cá nhân của mình, lại tùy tiện - và thậm chí hấp tấp - chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác khi được người môi giới của mình đưa ra không gì hơn ngoài những lý lẽ hời hợt để làm vậy. Tệ nhất trong số đó có lẽ là: "Chẳng ai phá sản vì chốt lời cả." Các bạn có thể hình dung một CEO dùng câu này để thúc giục hội đồng quản trị của mình bán một công ty con ngôi sao không? Theo quan điểm của chúng tôi, điều gì hợp lý trong kinh doanh thì cũng hợp lý đối với cổ phiếu: Thông thường, một nhà đầu tư nên nắm giữ một phần nhỏ của một doanh nghiệp xuất sắc với cùng sự bền bỉ mà một người chủ sẽ thể hiện nếu ông ta sở hữu toàn bộ doanh nghiệp đó.

Earlier I mentioned the financial results that could have been achieved by investing $40 in The Coca-Cola Co. in 1919. In 1938, more than 50 years after the introduction of Coke, and long after the drink was firmly established as an American icon, Fortune did an excellent story on the company. In the second paragraph the writer reported: "Several times every year a weighty and serious investor looks long and with profound respect at Coca-Cola's record, but comes regretfully to the conclusion that he is looking too late. The specters of saturation and competition rise before him."

Ở phần trước tôi đã nhắc đến kết quả tài chính có thể đạt được nhờ đầu tư 40 USD vào The Coca-Cola Co. năm 1919. Năm 1938, hơn 50 năm sau khi Coke ra đời, và rất lâu sau khi thức uống này đã vững vàng trở thành một biểu tượng của nước Mỹ, Fortune đã có một bài viết xuất sắc về công ty. Trong đoạn thứ hai, tác giả viết: "Mỗi năm vài lần, một nhà đầu tư tầm cỡ và nghiêm túc nhìn thật lâu và với sự kính trọng sâu sắc vào thành tích của Coca-Cola, nhưng rồi đi đến kết luận đầy tiếc nuối rằng anh ta đang nhìn quá muộn. Những bóng ma bão hòa và cạnh tranh hiện lên trước mắt anh ta."

Yes, competition there was in 1938 and in 1993 as well. But it's worth noting that in 1938 The Coca-Cola Co. sold 207 million cases of soft drinks (if its gallonage then is converted into the 192-ounce cases used for measurement today) and in 1993 it sold about 10.7 billion cases, a 50-fold increase in physical volume from a company that in 1938 was already dominant in its very major industry. Nor was the party over in 1938 for an investor: Though the $40 invested in 1919 in one share had (with dividends reinvested) turned into $3,277 by the end of 1938, a fresh $40 then invested in Coca-Cola stock would have grown to $25,000 by yearend 1993.

Đúng vậy, cạnh tranh đã có vào năm 1938 và cả năm 1993 nữa. Nhưng điều đáng lưu ý là năm 1938 The Coca-Cola Co. đã bán 207 triệu thùng nước giải khát (nếu quy đổi số gallon khi đó thành các thùng 192 ounce dùng để đo lường ngày nay) và năm 1993 công ty bán khoảng 10,7 tỷ thùng, mức tăng 50 lần về sản lượng vật chất ở một công ty mà năm 1938 vốn đã thống trị trong ngành rất lớn của mình. Bữa tiệc cũng chưa hề tàn vào năm 1938 đối với nhà đầu tư: Dù 40 USD đầu tư năm 1919 vào một cổ phiếu (với cổ tức được tái đầu tư) đã trở thành 3.277 USD vào cuối năm 1938, thì 40 USD mới được đầu tư vào cổ phiếu Coca-Cola lúc đó sẽ tăng lên thành 25.000 USD vào cuối năm 1993.

I can't resist one more quote from that 1938 Fortune story: "It would be hard to name any company comparable in size to Coca-Cola and selling, as Coca-Cola does, an unchanged product that can point to a ten-year record anything like Coca-Cola's." In the 55 years that have since passed, Coke's product line has broadened somewhat, but it's remarkable how well that description still fits.

Tôi không cưỡng lại được việc trích thêm một câu nữa từ bài viết năm 1938 đó của Fortune: "Khó có thể kể tên bất kỳ công ty nào có quy mô tương đương Coca-Cola và bán, như Coca-Cola đang làm, một sản phẩm không thay đổi mà có thể chỉ ra một thành tích mười năm giống như của Coca-Cola." Trong 55 năm đã trôi qua kể từ đó, dòng sản phẩm của Coke đã mở rộng phần nào, nhưng thật đáng chú ý khi mô tả đó vẫn còn đúng đến vậy.

Charlie and I decided long ago that in an investment lifetime it's just too hard to make hundreds of smart decisions. That judgment became ever more compelling as Berkshire's capital mushroomed and the universe of investments that could significantly affect our results shrank dramatically. Therefore, we adopted a strategy that required our being smart - and not too smart at that - only a very few times. Indeed, we'll now settle for one good idea a year. (Charlie says it's my turn.)

Charlie và tôi đã quyết định từ lâu rằng trong cả một đời đầu tư, việc đưa ra hàng trăm quyết định thông minh đơn giản là quá khó. Nhận định đó càng trở nên thuyết phục khi vốn của Berkshire phình to nhanh chóng và phạm vi lựa chọn đầu tư có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả của chúng ta thu hẹp mạnh mẽ. Vì vậy, chúng tôi đã áp dụng một chiến lược đòi hỏi chúng tôi phải thông minh - mà cũng không cần quá thông minh - chỉ trong một vài lần rất ít ỏi. Thật vậy, giờ đây chúng tôi sẽ bằng lòng với một ý tưởng tốt mỗi năm. (Charlie nói đến lượt tôi.)

The strategy we've adopted precludes our following standard diversification dogma. Many pundits would therefore say the strategy must be riskier than that employed by more conventional investors. We disagree. We believe that a policy of portfolio concentration may well decrease risk if it raises, as it should, both the intensity with which an investor thinks about a business and the comfort-level he must feel with its economic characteristics before buying into it. In stating this opinion, we define risk, using dictionary terms, as "the possibility of loss or injury."

Chiến lược chúng tôi áp dụng không cho phép chúng tôi đi theo giáo điều đa dạng hóa tiêu chuẩn. Vì vậy, nhiều nhà bình luận sẽ nói rằng chiến lược này hẳn phải rủi ro hơn chiến lược mà các nhà đầu tư theo thông lệ hơn áp dụng. Chúng tôi không đồng ý. Chúng tôi tin rằng chính sách tập trung danh mục rất có thể làm giảm rủi ro nếu nó làm tăng, như lẽ thường phải vậy, cả cường độ suy nghĩ của nhà đầu tư về một doanh nghiệp lẫn mức độ yên tâm mà anh ta phải cảm thấy về các đặc tính kinh tế của doanh nghiệp đó trước khi mua vào. Khi nêu quan điểm này, chúng tôi định nghĩa rủi ro, theo cách dùng từ của từ điển, là "khả năng thua lỗ hoặc thiệt hại."

Academics, however, like to define investment "risk" differently, averring that it is the relative volatility of a stock or portfolio of stocks - that is, their volatility as compared to that of a large universe of stocks. Employing data bases and statistical skills, these academics compute with precision the "beta" of a stock - its relative volatility in the past - and then build arcane investment and capital-allocation theories around this calculation. In their hunger for a single statistic to measure risk, however, they forget a fundamental principle: It is better to be approximately right than precisely wrong.

Tuy nhiên, giới học thuật lại thích định nghĩa "rủi ro" đầu tư theo cách khác, khẳng định rằng đó là mức biến động tương đối của một cổ phiếu hay một danh mục cổ phiếu - tức là mức biến động của chúng so với mức biến động của một tập hợp lớn các cổ phiếu. Sử dụng cơ sở dữ liệu và kỹ năng thống kê, những nhà học thuật này tính toán một cách chính xác "hệ số beta (beta)" của một cổ phiếu - tức mức biến động tương đối của cổ phiếu đó trong quá khứ - rồi xây dựng các lý thuyết đầu tư và phân bổ vốn bí hiểm xoay quanh phép tính này. Tuy nhiên, trong cơn khát một chỉ số thống kê duy nhất để đo lường rủi ro, họ quên mất một nguyên tắc cơ bản: Thà đúng một cách xấp xỉ còn hơn sai một cách chính xác.

For owners of a business - and that's the way we think of shareholders - the academics' definition of risk is far off the mark, so much so that it produces absurdities. For example, under beta-based theory, a stock that has dropped very sharply compared to the market - as had Washington Post when we bought it in 1973 - becomes "riskier" at the lower price than it was at the higher price. Would that description have then made any sense to someone who was offered the entire company at a vastly-reduced price?

Đối với chủ sở hữu của một doanh nghiệp - và đó là cách chúng tôi nhìn nhận các cổ đông - định nghĩa rủi ro của giới học thuật trật xa mục tiêu, đến mức sinh ra những điều phi lý. Ví dụ, theo lý thuyết dựa trên beta, một cổ phiếu đã giảm giá rất mạnh so với thị trường - như Washington Post khi chúng ta mua vào năm 1973 - lại trở nên "rủi ro hơn" ở mức giá thấp hơn so với khi ở mức giá cao hơn. Liệu mô tả đó khi ấy có chút ý nghĩa nào đối với một người được chào bán toàn bộ công ty ở mức giá thấp hơn rất nhiều không?

In fact, the true investor welcomes volatility. Ben Graham explained why in Chapter 8 of The Intelligent Investor. There he introduced "Mr. Market," an obliging fellow who shows up every day to either buy from you or sell to you, whichever you wish. The more manic-depressive this chap is, the greater the opportunities available to the investor. That's true because a wildly fluctuating market means that irrationally low prices will periodically be attached to solid businesses. It is impossible to see how the availability of such prices can be thought of as increasing the hazards for an investor who is totally free to either ignore the market or exploit its folly.

Trên thực tế, nhà đầu tư thực thụ chào đón sự biến động. Ben Graham đã giải thích lý do trong Chương 8 của cuốn The Intelligent Investor. Ở đó ông giới thiệu "Ngài Thị Trường (Mr. Market)", một gã sốt sắng chiều ý xuất hiện mỗi ngày để hoặc mua từ các bạn hoặc bán cho các bạn, tùy các bạn muốn. Gã này càng hưng – trầm cảm, cơ hội dành cho nhà đầu tư càng lớn. Điều đó đúng vì một thị trường dao động dữ dội có nghĩa là các mức giá thấp một cách phi lý sẽ định kỳ được gán cho những doanh nghiệp vững chắc. Không thể hiểu nổi làm sao việc có được những mức giá như vậy lại có thể bị coi là làm tăng mối nguy cho một nhà đầu tư hoàn toàn tự do phớt lờ thị trường hoặc khai thác sự điên rồ của nó.

In assessing risk, a beta purist will disdain examining what a company produces, what its competitors are doing, or how much borrowed money the business employs. He may even prefer not to know the company's name. What he treasures is the price history of its stock. In contrast, we'll happily forgo knowing the price history and instead will seek whatever information will further our understanding of the company's business. After we buy a stock, consequently, we would not be disturbed if markets closed for a year or two. We don't need a daily quote on our 100% position in See's or H. H. Brown to validate our well-being. Why, then, should we need a quote on our 7% interest in Coke?

Khi đánh giá rủi ro, một người sùng tín beta sẽ coi thường việc xem xét một công ty sản xuất cái gì, các đối thủ cạnh tranh của công ty đang làm gì, hay doanh nghiệp đó sử dụng bao nhiêu tiền đi vay. Anh ta thậm chí có thể thích không biết tên công ty hơn. Thứ anh ta trân quý là lịch sử giá cổ phiếu của công ty. Ngược lại, chúng tôi sẽ vui vẻ bỏ qua việc biết lịch sử giá và thay vào đó sẽ tìm kiếm bất kỳ thông tin nào giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về hoạt động kinh doanh của công ty. Do đó, sau khi chúng tôi mua một cổ phiếu, chúng tôi sẽ không bận tâm nếu thị trường đóng cửa một hoặc hai năm. Chúng ta không cần một báo giá hằng ngày cho vị thế 100% của mình ở See's hay H. H. Brown để xác nhận rằng mình vẫn ổn. Vậy thì tại sao chúng ta lại cần báo giá cho phần sở hữu 7% của mình ở Coke?

In our opinion, the real risk that an investor must assess is whether his aggregate after-tax receipts from an investment (including those he receives on sale) will, over his prospective holding period, give him at least as much purchasing power as he had to begin with, plus a modest rate of interest on that initial stake. Though this risk cannot be calculated with engineering precision, it can in some cases be judged with a degree of accuracy that is useful. The primary factors bearing upon this evaluation are:

Theo quan điểm của chúng tôi, rủi ro thực sự mà một nhà đầu tư phải đánh giá là liệu tổng số tiền sau thuế anh ta nhận được từ một khoản đầu tư (bao gồm cả số tiền nhận được khi bán) có, trong suốt thời gian nắm giữ dự kiến, mang lại cho anh ta ít nhất là sức mua bằng với lúc ban đầu, cộng thêm một mức lãi suất khiêm tốn trên số vốn ban đầu đó hay không. Dù rủi ro này không thể được tính toán với độ chính xác như trong kỹ thuật, trong một số trường hợp nó có thể được đánh giá với một mức độ chính xác hữu ích. Các yếu tố chủ yếu tác động đến việc đánh giá này là:

  1. The certainty with which the long-term economic characteristics of the business can be evaluated;
  1. Mức độ chắc chắn mà các đặc tính kinh tế dài hạn của doanh nghiệp có thể được đánh giá;
  1. The certainty with which management can be evaluated, both as to its ability to realize the full potential of the business and to wisely employ its cash flows; 3) The certainty with which management can be counted on to channel the rewards from the business to the shareholders rather than to itself;
  1. Mức độ chắc chắn mà ban quản lý có thể được đánh giá, cả về năng lực hiện thực hóa toàn bộ tiềm năng của doanh nghiệp lẫn khả năng sử dụng dòng tiền một cách khôn ngoan; 3) Mức độ chắc chắn rằng ban quản lý có thể được tin cậy sẽ chuyển thành quả của doanh nghiệp đến các cổ đông thay vì cho chính mình;
  1. The purchase price of the business;
  1. Giá mua doanh nghiệp;
  1. The levels of taxation and inflation that will be experienced and that will determine the degree by which an investor's purchasing-power return is reduced from his gross return.
  1. Mức thuế và lạm phát sẽ phải trải qua, những yếu tố sẽ quyết định mức độ mà lợi suất tính theo sức mua của nhà đầu tư bị giảm đi so với lợi suất gộp của anh ta.

These factors will probably strike many analysts as unbearably fuzzy, since they cannot be extracted from a data base of any kind. But the difficulty of precisely quantifying these matters does not negate their importance nor is it insuperable. Just as Justice Stewart found it impossible to formulate a test for obscenity but nevertheless asserted, "I know it when I see it," so also can investors - in an inexact but useful way - "see" the risks inherent in certain investments without reference to complex equations or price histories.

Nhiều nhà phân tích có lẽ sẽ thấy những yếu tố này mơ hồ đến mức không chịu nổi, vì chúng không thể được rút ra từ bất kỳ loại cơ sở dữ liệu nào. Nhưng việc khó định lượng chính xác những vấn đề này không phủ nhận tầm quan trọng của chúng, cũng không phải là điều không thể vượt qua. Cũng như Thẩm phán Stewart thấy không thể xây dựng một phép thử cho sự tục tĩu nhưng vẫn khẳng định: "Nhìn thấy là tôi biết," các nhà đầu tư cũng vậy - theo một cách không chính xác nhưng hữu ích - có thể "nhìn thấy" những rủi ro vốn có trong một số khoản đầu tư mà không cần viện đến các phương trình phức tạp hay lịch sử giá.

Is it really so difficult to conclude that Coca-Cola and Gillette possess far less business risk over the long term than, say, any computer company or retailer? Worldwide, Coke sells about 44% of all soft drinks, and Gillette has more than a 60% share (in value) of the blade market. Leaving aside chewing gum, in which Wrigley is dominant, I know of no other significant businesses in which the leading company has long enjoyed such global power.

Liệu có thực sự khó đến thế để kết luận rằng Coca-Cola và Gillette có rủi ro kinh doanh trong dài hạn thấp hơn rất nhiều so với, chẳng hạn, bất kỳ công ty máy tính hay nhà bán lẻ nào? Trên toàn thế giới, Coke bán khoảng 44% tổng lượng nước giải khát, và Gillette chiếm hơn 60% thị phần (tính theo giá trị) của thị trường lưỡi dao cạo. Ngoại trừ kẹo cao su, lĩnh vực mà Wrigley chiếm ưu thế, tôi không biết có ngành kinh doanh quan trọng nào khác mà công ty dẫn đầu đã từ lâu được hưởng sức mạnh toàn cầu như vậy.

Moreover, both Coke and Gillette have actually increased their worldwide shares of market in recent years. The might of their brand names, the attributes of their products, and the strength of their distribution systems give them an enormous competitive advantage, setting up a protective moat around their economic castles. The average company, in contrast, does battle daily without any such means of protection. As Peter Lynch says, stocks of companies selling commodity-like products should come with a warning label: "Competition may prove hazardous to human wealth."

Hơn nữa, cả Coke và Gillette thực tế đều đã tăng thị phần toàn cầu của mình trong những năm gần đây. Uy lực của thương hiệu, các đặc tính sản phẩm và sức mạnh hệ thống phân phối mang lại cho họ lợi thế cạnh tranh to lớn, tạo nên một con hào kinh tế (moat) bảo vệ quanh những tòa lâu đài kinh tế của họ. Ngược lại, một công ty trung bình phải chiến đấu hằng ngày mà không có bất kỳ phương tiện bảo vệ nào như vậy. Như Peter Lynch nói, cổ phiếu của các công ty bán sản phẩm kiểu hàng hóa cơ bản nên đi kèm một nhãn cảnh báo: "Cạnh tranh có thể gây hại cho tài sản của con người."

The competitive strengths of a Coke or Gillette are obvious to even the casual observer of business. Yet the beta of their stocks is similar to that of a great many run-of-the-mill companies who possess little or no competitive advantage. Should we conclude from this similarity that the competitive strength of Coke and Gillette gains them nothing when business risk is being measured? Or should we conclude that the risk in owning a piece of a company - its stock - is somehow divorced from the long-term risk inherent in its business operations? We believe neither conclusion makes sense and that equating beta with investment risk also makes no sense.

Thế mạnh cạnh tranh của một Coke hay một Gillette là hiển nhiên ngay cả đối với người chỉ quan sát kinh doanh một cách qua loa. Thế nhưng hệ số beta của cổ phiếu hai công ty này lại tương tự như của rất nhiều công ty tầm thường có ít hoặc không có lợi thế cạnh tranh. Liệu chúng ta có nên kết luận từ sự tương đồng này rằng thế mạnh cạnh tranh của Coke và Gillette chẳng mang lại gì cho họ khi đo lường rủi ro kinh doanh? Hay chúng ta có nên kết luận rằng rủi ro khi sở hữu một phần của một công ty - tức cổ phiếu của công ty đó - bằng cách nào đó tách rời khỏi rủi ro dài hạn vốn có trong hoạt động kinh doanh của công ty? Chúng tôi tin rằng cả hai kết luận đều không hợp lý và rằng việc đánh đồng beta với rủi ro đầu tư cũng không hợp lý.

The theoretician bred on beta has no mechanism for differentiating the risk inherent in, say, a single-product toy company selling pet rocks or hula hoops from that of another toy company whose sole product is Monopoly or Barbie. But it's quite possible for ordinary investors to make such distinctions if they have a reasonable understanding of consumer behavior and the factors that create long-term competitive strength or weakness. Obviously, every investor will make mistakes. But by confining himself to a relatively few, easy-to-understand cases, a reasonably intelligent, informed and diligent person can judge investment risks with a useful degree of accuracy.

Nhà lý thuyết được nuôi dưỡng bằng beta không có cơ chế nào để phân biệt rủi ro vốn có của, chẳng hạn, một công ty đồ chơi chỉ có một sản phẩm, bán đá cưng (pet rock) hay vòng hula hoop, với rủi ro của một công ty đồ chơi khác có sản phẩm duy nhất là Monopoly hay Barbie. Nhưng các nhà đầu tư bình thường hoàn toàn có thể phân biệt như vậy nếu họ có hiểu biết hợp lý về hành vi người tiêu dùng và các yếu tố tạo nên sức mạnh hoặc điểm yếu cạnh tranh dài hạn. Hiển nhiên, nhà đầu tư nào cũng sẽ mắc sai lầm. Nhưng bằng cách tự giới hạn mình trong một số tương đối ít các trường hợp dễ hiểu, một người khá thông minh, có hiểu biết và chuyên cần có thể đánh giá rủi ro đầu tư với một mức độ chính xác hữu ích.

In many industries, of course, Charlie and I can't determine whether we are dealing with a "pet rock" or a "Barbie." We couldn't solve this problem, moreover, even if we were to spend years intensely studying those industries. Sometimes our own intellectual shortcomings would stand in the way of understanding, and in other cases the nature of the industry would be the roadblock. For example, a business that must deal with fast-moving technology is not going to lend itself to reliable evaluations of its long-term economics. Did we foresee thirty years ago what would transpire in the television-manufacturing or computer industries? Of course not. (Nor did most of the investors and corporate managers who enthusiastically entered those industries.) Why, then, should Charlie and I now think we can predict the future of other rapidly-evolving businesses? We'll stick instead with the easy cases. Why search for a needle buried in a haystack when one is sitting in plain sight?

Tất nhiên, trong nhiều ngành, Charlie và tôi không thể xác định được liệu chúng tôi đang đối mặt với một "pet rock" hay một "Barbie". Hơn nữa, chúng tôi cũng không thể giải quyết vấn đề này ngay cả khi dành nhiều năm nghiên cứu chuyên sâu các ngành đó. Đôi khi chính những hạn chế về trí tuệ của chúng tôi cản trở sự hiểu biết, và trong những trường hợp khác, bản chất của ngành mới là rào cản. Ví dụ, một doanh nghiệp phải đối phó với công nghệ thay đổi nhanh sẽ không cho phép đánh giá một cách đáng tin cậy các đặc tính kinh tế dài hạn của mình. Ba mươi năm trước, chúng tôi có thấy trước điều gì sẽ diễn ra trong ngành sản xuất tivi hay ngành máy tính không? Tất nhiên là không. (Phần lớn các nhà đầu tư và nhà quản lý doanh nghiệp đã hăng hái gia nhập các ngành đó cũng không thấy trước.) Vậy thì tại sao giờ đây Charlie và tôi lại nghĩ rằng mình có thể dự đoán tương lai của những ngành kinh doanh khác đang thay đổi nhanh chóng? Thay vào đó, chúng tôi sẽ gắn bó với những trường hợp dễ. Tại sao phải tìm một cây kim bị vùi trong đống cỏ khô khi có một cây đang nằm ngay trước mắt?

Of course, some investment strategies - for instance, our efforts in arbitrage over the years - require wide diversification. If significant risk exists in a single transaction, overall risk should be reduced by making that purchase one of many mutually-independent commitments. Thus, you may consciously purchase a risky investment - one that indeed has a significant possibility of causing loss or injury - if you believe that your gain, weighted for probabilities, considerably exceeds your loss, comparably weighted, and if you can commit to a number of similar, but unrelated opportunities. Most venture capitalists employ this strategy. Should you choose to pursue this course, you should adopt the outlook of the casino that owns a roulette wheel, which will want to see lots of action because it is favored by probabilities, but will refuse to accept a single, huge bet.

Tất nhiên, một số chiến lược đầu tư - chẳng hạn những nỗ lực kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) của chúng ta qua nhiều năm - đòi hỏi đa dạng hóa rộng. Nếu có rủi ro đáng kể trong một giao dịch đơn lẻ, rủi ro tổng thể cần được giảm bớt bằng cách biến giao dịch mua đó thành một trong nhiều khoản đầu tư độc lập lẫn nhau. Như vậy, các bạn có thể chủ động mua một khoản đầu tư rủi ro - một khoản thực sự có khả năng đáng kể gây ra thua lỗ hoặc thiệt hại - nếu các bạn tin rằng khoản lãi của mình, khi đã tính theo trọng số xác suất, vượt đáng kể khoản lỗ, được tính trọng số tương tự, và nếu các bạn có thể đầu tư vào một số cơ hội tương tự nhưng không liên quan đến nhau. Phần lớn các nhà đầu tư mạo hiểm áp dụng chiến lược này. Nếu các bạn chọn theo đuổi hướng đi này, các bạn nên áp dụng cách nhìn của sòng bạc sở hữu một bàn roulette, vốn muốn thấy thật nhiều lượt chơi vì xác suất nghiêng về phía mình, nhưng sẽ từ chối nhận một ván cược đơn lẻ khổng lồ.

Another situation requiring wide diversification occurs when an investor who does not understand the economics of specific businesses nevertheless believes it in his interest to be a long-term owner of American industry. That investor should both own a large number of equities and space out his purchases. By periodically investing in an index fund, for example, the know-nothing investor can actually out-perform most investment professionals.

Một tình huống khác đòi hỏi đa dạng hóa rộng rãi xảy ra khi một nhà đầu tư không hiểu đặc tính kinh tế của các doanh nghiệp cụ thể nhưng vẫn tin rằng việc trở thành chủ sở hữu dài hạn của nền công nghiệp Mỹ là có lợi cho mình. Nhà đầu tư đó nên vừa sở hữu một số lượng lớn cổ phiếu vừa giãn cách các lần mua của mình. Chẳng hạn, bằng cách đầu tư định kỳ vào một quỹ chỉ số (index fund), nhà đầu tư không am hiểu (know-nothing investor) thực sự có thể đạt kết quả vượt trội so với phần lớn các chuyên gia đầu tư.

Paradoxically, when "dumb" money acknowledges its limitations, it ceases to be dumb.

Nghịch lý thay, khi tiền "khờ" ("dumb" money) thừa nhận những giới hạn của mình, nó không còn khờ nữa.

On the other hand, if you are a know-something investor, able to understand business economics and to find five to ten sensibly-priced companies that possess important long-term competitive advantages, conventional diversification makes no sense for you. It is apt simply to hurt your results and increase your risk. I cannot understand why an investor of that sort elects to put money into a business that is his 20th favorite rather than simply adding that money to his top choices - the businesses he understands best and that present the least risk, along with the greatest profit potential. In the words of the prophet Mae West: "Too much of a good thing can be wonderful."

Mặt khác, nếu các bạn là một nhà đầu tư am hiểu (know-something investor), có khả năng hiểu đặc tính kinh tế của doanh nghiệp và tìm ra từ năm đến mười công ty có giá hợp lý sở hữu những lợi thế cạnh tranh dài hạn quan trọng, thì việc đa dạng hóa theo thông lệ chẳng có ý nghĩa gì đối với các bạn. Việc đó chỉ dễ làm tổn hại kết quả của các bạn và làm tăng rủi ro của các bạn. Tôi không thể hiểu vì sao một nhà đầu tư thuộc loại đó lại chọn bỏ tiền vào một doanh nghiệp chỉ đứng thứ 20 trong số những doanh nghiệp mình ưa thích thay vì đơn giản là bổ sung số tiền đó vào những lựa chọn hàng đầu của mình - những doanh nghiệp mà anh ta hiểu rõ nhất và có rủi ro thấp nhất, cùng với tiềm năng lợi nhuận lớn nhất. Theo lời của nhà tiên tri Mae West: "Quá nhiều một điều tốt đẹp có thể thật tuyệt vời."

Corporate Governance

Quản trị công ty (Corporate Governance)

At our annual meetings, someone usually asks "What happens to this place if you get hit by a truck?" I'm glad they are still asking the question in this form. It won't be too long before the query becomes: "What happens to this place if you don't get hit by a truck?"

Tại các đại hội cổ đông thường niên của chúng ta, thường có người hỏi "Chuyện gì sẽ xảy ra với nơi này nếu ông bị xe tải đâm?" Tôi mừng là họ vẫn còn đặt câu hỏi theo kiểu này. Sẽ không lâu nữa trước khi câu hỏi trở thành: "Chuyện gì sẽ xảy ra với nơi này nếu ông không bị xe tải đâm?"

Such questions, in any event, raise a reason for me to discuss corporate governance, a hot topic during the past year. In general, I believe that directors have stiffened their spines recently and that shareholders are now being treated somewhat more like true owners than was the case not long ago. Commentators on corporate governance, however, seldom make any distinction among three fundamentally different manager/owner situations that exist in publicly-held companies. Though the legal responsibility of directors is identical throughout, their ability to effect change differs in each of the cases. Attention usually falls on the first case, because it prevails on the corporate scene. Since Berkshire falls into the second category, however, and will someday fall into the third, we will discuss all three variations.

Dù sao đi nữa, những câu hỏi như vậy cũng cho tôi một lý do để bàn về quản trị công ty, một chủ đề nóng trong năm qua. Nhìn chung, tôi tin rằng gần đây các thành viên hội đồng quản trị đã cứng cỏi hơn và cổ đông hiện đang được đối xử phần nào giống những chủ sở hữu thực sự hơn so với tình trạng cách đây không lâu. Tuy nhiên, những người bình luận về quản trị công ty hiếm khi phân biệt ba tình huống người quản lý/chủ sở hữu khác nhau về căn bản đang tồn tại ở các công ty đại chúng. Dù trách nhiệm pháp lý của các thành viên hội đồng quản trị là như nhau trong mọi trường hợp, khả năng tạo ra thay đổi của họ lại khác nhau ở mỗi trường hợp. Sự chú ý thường dồn vào trường hợp thứ nhất, vì đây là trường hợp phổ biến trong giới doanh nghiệp. Tuy nhiên, vì Berkshire thuộc loại thứ hai, và một ngày nào đó sẽ thuộc loại thứ ba, chúng tôi sẽ bàn cả ba biến thể.

The first, and by far most common, board situation is one in which a corporation has no controlling shareholder. In that case, I believe directors should behave as if there is a single absentee owner, whose long-term interest they should try to further in all proper ways. Unfortunately, "long-term" gives directors a lot of wiggle room. If they lack either integrity or the ability to think independently, directors can do great violence to shareholders while still claiming to be acting in their long-term interest. But assume the board is functioning well and must deal with a management that is mediocre or worse. Directors then have the responsibility for changing that management, just as an intelligent owner would do if he were present. And if able but greedy managers over-reach and try to dip too deeply into the shareholders' pockets, directors must slap their hands.

Tình huống thứ nhất của hội đồng quản trị, và cho đến nay là phổ biến nhất, là tình huống trong đó công ty không có cổ đông chi phối. Trong trường hợp đó, tôi tin rằng các thành viên hội đồng quản trị nên hành xử như thể có một chủ sở hữu vắng mặt duy nhất, người mà họ cần cố gắng thúc đẩy lợi ích dài hạn bằng mọi cách đúng đắn. Đáng tiếc là "dài hạn" để lại cho các thành viên hội đồng quản trị rất nhiều khoảng trống để xoay xở. Nếu thiếu sự chính trực hoặc khả năng tư duy độc lập, các thành viên hội đồng quản trị có thể gây tổn hại nặng nề cho cổ đông trong khi vẫn tuyên bố là đang hành động vì lợi ích dài hạn của họ. Nhưng giả sử hội đồng quản trị đang hoạt động tốt và phải đối phó với một ban điều hành tầm thường hoặc tệ hơn. Khi đó, các thành viên hội đồng quản trị có trách nhiệm thay đổi ban điều hành đó, đúng như một chủ sở hữu thông minh sẽ làm nếu ông ta có mặt. Và nếu những người quản lý có năng lực nhưng tham lam vượt quá giới hạn và cố thò tay quá sâu vào túi cổ đông, các thành viên hội đồng quản trị phải đập vào tay họ.

In this plain-vanilla case, a director who sees something he doesn't like should attempt to persuade the other directors of his views. If he is successful, the board will have the muscle to make the appropriate change. Suppose, though, that the unhappy director can't get other directors to agree with him. He should then feel free to make his views known to the absentee owners. Directors seldom do that, of course. The temperament of many directors would in fact be incompatible with critical behavior of that sort. But I see nothing improper in such actions, assuming the issues are serious. Naturally, the complaining director can expect a vigorous rebuttal from the unpersuaded directors, a prospect that should discourage the dissenter from pursuing trivial or non-rational causes.

Trong trường hợp cơ bản, đơn giản này, một thành viên hội đồng quản trị thấy điều gì đó mình không vừa ý nên cố gắng thuyết phục các thành viên hội đồng quản trị khác theo quan điểm của mình. Nếu thành công, hội đồng quản trị sẽ có đủ sức mạnh để thực hiện thay đổi thích hợp. Tuy nhiên, giả sử thành viên không hài lòng đó không thể khiến các thành viên khác đồng ý với mình. Khi đó, ông ta nên thấy mình được tự do công bố quan điểm của mình cho các chủ sở hữu vắng mặt. Tất nhiên, các thành viên hội đồng quản trị hiếm khi làm vậy. Thực tế, tính khí của nhiều thành viên hội đồng quản trị sẽ không tương thích với hành vi phê phán kiểu đó. Nhưng tôi không thấy có gì sai trái trong những hành động như vậy, giả định rằng các vấn đề là nghiêm trọng. Đương nhiên, thành viên lên tiếng phàn nàn có thể dự liệu một sự phản bác quyết liệt từ các thành viên không bị thuyết phục, một viễn cảnh dự kiến sẽ khiến người bất đồng ý kiến chùn bước trước việc theo đuổi những mục đích vụn vặt hoặc phi lý.

For the boards just discussed, I believe the directors ought to be relatively few in number - say, ten or less - and ought to come mostly from the outside. The outside board members should establish standards for the CEO's performance and should also periodically meet, without his being present, to evaluate his performance against those standards.

Đối với các hội đồng quản trị vừa bàn, tôi tin rằng số lượng thành viên hội đồng quản trị nên tương đối ít - chẳng hạn mười người hoặc ít hơn - và phần lớn nên đến từ bên ngoài. Các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài nên thiết lập các chuẩn mực cho thành quả của CEO và cũng nên định kỳ họp, khi không có mặt ông ta, để đánh giá thành quả của ông ta so với các chuẩn mực đó.

The requisites for board membership should be business savvy, interest in the job, and owner-orientation. Too often, directors are selected simply because they are prominent or add diversity to the board. That practice is a mistake. Furthermore, mistakes in selecting directors are particularly serious because appointments are so hard to undo: The pleasant but vacuous director need never worry about job security.

Các điều kiện cần có để trở thành thành viên hội đồng quản trị nên là sự nhạy bén kinh doanh, sự quan tâm đến công việc, và tư duy chủ sở hữu. Quá thường xuyên, các thành viên hội đồng quản trị được chọn chỉ vì họ nổi tiếng hoặc làm tăng tính đa dạng cho hội đồng quản trị. Cách làm đó là một sai lầm. Hơn nữa, những sai lầm trong việc lựa chọn thành viên hội đồng quản trị đặc biệt nghiêm trọng vì các bổ nhiệm rất khó đảo ngược: Thành viên hội đồng quản trị dễ chịu nhưng rỗng tuếch chẳng bao giờ phải lo về sự an toàn của chiếc ghế mình.

The second case is that existing at Berkshire, where the controlling owner is also the manager. At some companies, this arrangement is facilitated by the existence of two classes of stock endowed with disproportionate voting power. In these situations, it's obvious that the board does not act as an agent between owners and management and that the directors cannot effect change except through persuasion. Therefore, if the owner/manager is mediocre or worse - or is over-reaching - there is little a director can do about it except object. If the directors having no connections to the owner/manager make a unified argument, it may well have some effect. More likely it will not.

Trường hợp thứ hai là trường hợp đang tồn tại ở Berkshire, nơi chủ sở hữu chi phối đồng thời là người quản lý. Ở một số công ty, cơ chế này được thuận lợi hơn nhờ có hai loại cổ phiếu mang quyền biểu quyết không cân xứng. Trong những tình huống này, hiển nhiên là hội đồng quản trị không đóng vai trò người đại diện đứng giữa chủ sở hữu và ban điều hành, và các thành viên hội đồng quản trị không thể tạo ra thay đổi ngoại trừ bằng sự thuyết phục. Vì vậy, nếu chủ sở hữu kiêm người quản lý là người tầm thường hoặc tệ hơn - hoặc vượt quá giới hạn - thì một thành viên hội đồng quản trị chẳng thể làm được gì nhiều ngoài việc phản đối. Nếu các thành viên hội đồng quản trị không có quan hệ gì với chủ sở hữu kiêm người quản lý đưa ra một lập luận thống nhất, điều đó rất có thể sẽ có tác dụng nhất định. Nhiều khả năng hơn là không.

If change does not come, and the matter is sufficiently serious, the outside directors should resign. Their resignation will signal their doubts about management, and it will emphasize that no outsider is in a position to correct the owner/manager's shortcomings.

Nếu thay đổi không đến, và vấn đề đủ nghiêm trọng, các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài nên từ chức. Việc họ từ chức sẽ phát tín hiệu về những nghi ngại của họ đối với ban điều hành, và sẽ nhấn mạnh rằng không người ngoài nào ở vị thế có thể khắc phục những thiếu sót của chủ sở hữu kiêm người quản lý.

The third governance case occurs when there is a controlling owner who is not involved in management. This case, examples of which are Hershey Foods and Dow Jones, puts the outside directors in a potentially useful position. If they become unhappy with either the competence or integrity of the manager, they can go directly to the owner (who may also be on the board) and report their dissatisfaction. This situation is ideal for an outside director, since he need make his case only to a single, presumably interested owner, who can forthwith effect change if the argument is persuasive. Even so, the dissatisfied director has only that single course of action. If he remains unsatisfied about a critical matter, he has no choice but to resign.

Trường hợp quản trị thứ ba xảy ra khi có một chủ sở hữu chi phối không tham gia điều hành. Trường hợp này, mà các ví dụ là Hershey Foods và Dow Jones, đặt các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài vào một vị thế có khả năng hữu ích. Nếu họ không hài lòng với năng lực hoặc sự chính trực của người quản lý, họ có thể đến thẳng chỗ chủ sở hữu (người có thể cũng ngồi trong hội đồng quản trị) và báo cáo sự không hài lòng của mình. Tình huống này là lý tưởng đối với một thành viên hội đồng quản trị bên ngoài, vì ông ta chỉ cần trình bày lập luận của mình với một chủ sở hữu duy nhất, có lẽ là người quan tâm, người có thể lập tức tạo ra thay đổi nếu lập luận có sức thuyết phục. Dù vậy, thành viên không hài lòng chỉ có duy nhất một hướng hành động đó. Nếu ông ta vẫn không thỏa mãn về một vấn đề hệ trọng, ông ta không có lựa chọn nào khác ngoài từ chức.

Logically, the third case should be the most effective in insuring first-class management. In the second case the owner is not going to fire himself, and in the first case, directors often find it very difficult to deal with mediocrity or mild over-reaching. Unless the unhappy directors can win over a majority of the board - an awkward social and logistical task, particularly if management's behavior is merely odious, not egregious - their hands are effectively tied. In practice, directors trapped in situations of this kind usually convince themselves that by staying around they can do at least some good. Meanwhile, management proceeds unfettered.

Về mặt logic, trường hợp thứ ba được kỳ vọng sẽ hiệu quả nhất trong việc bảo đảm một ban điều hành hạng nhất. Trong trường hợp thứ hai, chủ sở hữu sẽ không tự sa thải chính mình, còn trong trường hợp thứ nhất, các thành viên hội đồng quản trị thường thấy rất khó đối phó với sự tầm thường hoặc sự vượt quá giới hạn ở mức nhẹ. Trừ khi các thành viên không hài lòng có thể lôi kéo được đa số hội đồng quản trị - một nhiệm vụ khó xử cả về mặt xã giao lẫn hậu cần, đặc biệt nếu hành vi của ban điều hành chỉ đơn thuần đáng ghét chứ không phải quá quắt - thì tay họ coi như đã bị trói. Trên thực tế, những thành viên hội đồng quản trị bị mắc kẹt trong các tình huống loại này thường tự thuyết phục bản thân rằng bằng cách ở lại họ có thể làm được ít nhất một chút điều tốt. Trong khi đó, ban điều hành cứ thế tiếp tục mà không bị kiềm chế.

In the third case, the owner is neither judging himself nor burdened with the problem of garnering a majority. He can also insure that outside directors are selected who will bring useful qualities to the board. These directors, in turn, will know that the good advice they give will reach the right ears, rather than being stifled by a recalcitrant management. If the controlling owner is intelligent and self-confident, he will make decisions in respect to management that are meritocratic and pro-shareholder. Moreover - and this is critically important - he can readily correct any mistake he makes.

Trong trường hợp thứ ba, chủ sở hữu không phải tự phán xét chính mình cũng không vướng bận với bài toán tập hợp đa số. Ông ta cũng có thể bảo đảm rằng những thành viên hội đồng quản trị bên ngoài được chọn là những người sẽ mang lại những phẩm chất hữu ích cho hội đồng quản trị. Đến lượt mình, những thành viên này sẽ biết rằng những lời khuyên tốt họ đưa ra sẽ đến đúng tai người cần nghe, thay vì bị một ban điều hành ngoan cố bóp nghẹt. Nếu chủ sở hữu chi phối thông minh và tự tin, ông ta sẽ đưa ra các quyết định liên quan đến ban điều hành theo tinh thần trọng dụng người tài và có lợi cho cổ đông. Hơn nữa - và điều này cực kỳ quan trọng - ông ta có thể dễ dàng sửa chữa bất kỳ sai lầm nào mình mắc phải.

At Berkshire we operate in the second mode now and will for as long as I remain functional. My health, let me add, is excellent. For better or worse, you are likely to have me as an owner/manager for some time.

Tại Berkshire, hiện chúng ta vận hành theo mô thức thứ hai và sẽ còn như vậy chừng nào tôi còn hoạt động được. Xin để tôi nói thêm, sức khỏe của tôi rất tốt. Dù tốt hay xấu, các bạn nhiều khả năng sẽ còn có tôi làm chủ sở hữu kiêm người quản lý thêm một thời gian nữa.

After my death, all of my stock will go to my wife, Susie, should she survive me, or to a foundation if she dies before I do. In neither case will taxes and bequests require the sale of consequential amounts of stock.

Sau khi tôi qua đời, toàn bộ cổ phiếu của tôi sẽ thuộc về vợ tôi, Susie, nếu bà ấy sống lâu hơn tôi, hoặc thuộc về một quỹ từ thiện (foundation) nếu bà ấy mất trước tôi. Trong cả hai trường hợp, thuế và các khoản di tặng sẽ không đòi hỏi phải bán một lượng cổ phiếu đáng kể.

When my stock is transferred to either my wife or the foundation, Berkshire will enter the third governance mode, going forward with a vitally interested, but non-management, owner and with a management that must perform for that owner. In preparation for that time, Susie was elected to the board a few years ago, and in 1993 our son, Howard, joined the board. These family members will not be managers of the company in the future, but they will represent the controlling interest should anything happen to me. Most of our other directors are also significant owners of Berkshire stock, and each has a strong owner-orientation. All in all, we're prepared for "the truck."

Khi cổ phiếu của tôi được chuyển cho vợ tôi hoặc cho quỹ từ thiện, Berkshire sẽ bước vào mô thức quản trị thứ ba, tiếp tục tiến lên với một chủ sở hữu hết sức quan tâm nhưng không tham gia điều hành, và với một ban điều hành phải tạo ra thành quả cho chủ sở hữu đó. Để chuẩn bị cho thời điểm đó, Susie đã được bầu vào hội đồng quản trị vài năm trước, và năm 1993 con trai chúng tôi, Howard, đã tham gia hội đồng quản trị. Những thành viên gia đình này sẽ không phải là người quản lý công ty trong tương lai, nhưng họ sẽ đại diện cho cổ phần chi phối (controlling interest) nếu có chuyện gì xảy ra với tôi. Hầu hết các thành viên hội đồng quản trị khác của chúng ta cũng là những người sở hữu lượng cổ phiếu Berkshire đáng kể, và mỗi người đều có tư duy chủ sở hữu mạnh mẽ. Nói chung, chúng ta đã sẵn sàng cho "chiếc xe tải."

Shareholder-Designated Contributions

Đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định (Shareholder-Designated Contributions)

About 97% of all eligible shares participated in Berkshire's 1993 shareholder-designated contributions program. Contributions made through the program were $9.4 million and 3,110 charities were recipients.

Khoảng 97% tổng số cổ phiếu đủ điều kiện đã tham gia chương trình đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định năm 1993 của Berkshire. Số tiền đóng góp thực hiện thông qua chương trình là 9,4 triệu USD và 3.110 tổ chức từ thiện là đơn vị nhận.

Berkshire's practice in respect to discretionary philanthropy - as contrasted to its policies regarding contributions that are clearly related to the company's business activities - differs significantly from that of other publicly-held corporations. There, most corporate contributions are made pursuant to the wishes of the CEO (who often will be responding to social pressures), employees (through matching gifts), or directors (through matching gifts or requests they make of the CEO).

Cách làm của Berkshire đối với hoạt động từ thiện tùy ý - khác với các chính sách của công ty về những khoản đóng góp rõ ràng liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty - khác biệt đáng kể so với cách làm của các công ty đại chúng khác. Ở những nơi đó, hầu hết các khoản đóng góp của công ty được thực hiện theo mong muốn của CEO (người thường sẽ phản ứng trước các áp lực xã hội), của nhân viên (thông qua các khoản tặng đối ứng – matching gifts), hoặc của các thành viên hội đồng quản trị (thông qua các khoản tặng đối ứng hoặc các yêu cầu họ đưa ra với CEO).

At Berkshire, we believe that the company's money is the owners' money, just as it would be in a closely-held corporation, partnership, or sole proprietorship. Therefore, if funds are to be given to causes unrelated to Berkshire's business activities, it is the charities favored by our owners that should receive them. We've yet to find a CEO who believes he should personally fund the charities favored by his shareholders. Why, then, should they foot the bill for his picks?

Tại Berkshire, chúng tôi tin rằng tiền của công ty là tiền của các chủ sở hữu, giống như trong một công ty cổ phần có ít cổ đông, một công ty hợp danh, hay một doanh nghiệp tư nhân một chủ (sole proprietorship). Vì vậy, nếu tiền được trao cho những mục đích không liên quan đến hoạt động kinh doanh của Berkshire, thì chính những tổ chức từ thiện được các chủ sở hữu của chúng ta ưa chuộng mới nên là bên nhận số tiền đó. Chúng tôi vẫn chưa tìm thấy một CEO nào tin rằng ông ta nên tự bỏ tiền túi tài trợ cho các tổ chức từ thiện mà cổ đông của mình ưa chuộng. Vậy thì tại sao cổ đông lại phải trả tiền cho những lựa chọn của ông ta?

Let me add that our program is easy to administer. Last fall, for two months, we borrowed one person from National Indemnity to help us implement the instructions that came from our 7,500 registered shareholders. I'd guess that the average corporate program in which employee gifts are matched incurs far greater administrative costs. Indeed, our entire corporate overhead is less than half the size of our charitable contributions. (Charlie, however, insists that I tell you that $1.4 million of our $4.9 million overhead is attributable to our corporate jet, The Indefensible.)

Xin để tôi nói thêm rằng chương trình của chúng ta rất dễ quản lý. Mùa thu năm ngoái, trong hai tháng, chúng tôi đã mượn một người từ National Indemnity để giúp chúng tôi thực hiện các chỉ dẫn đến từ 7.500 cổ đông đăng ký của chúng ta. Tôi đoán rằng một chương trình trung bình của các công ty, trong đó khoản tặng của nhân viên được tặng đối ứng, phát sinh chi phí quản lý lớn hơn nhiều. Thực tế, toàn bộ chi phí quản lý chung của công ty mẹ của chúng ta chưa bằng một nửa quy mô các khoản đóng góp từ thiện của chúng ta. (Tuy nhiên, Charlie nhất quyết bắt tôi phải nói với các bạn rằng 1,4 triệu USD trong số 4,9 triệu USD chi phí quản lý chung của chúng ta là do chiếc máy bay phản lực của công ty, The Indefensible (Không Thể Biện Hộ).)

Below is a list showing the largest categories to which our shareholders have steered their contributions.

Dưới đây là danh sách thể hiện những nhóm lớn nhất mà cổ đông của chúng ta đã hướng các khoản đóng góp của mình tới.

(a) 347 churches and synagogues received 569 gifts

(a) 347 nhà thờ và giáo đường Do Thái đã nhận 569 khoản tặng

(b) 283 colleges and universities received 670 gifts

(b) 283 trường cao đẳng và đại học đã nhận 670 khoản tặng

(c) 244 K-12 schools (about two-thirds secular, one-third religious) received 525 gifts

(c) 244 trường phổ thông từ mẫu giáo đến lớp 12 (K-12) (khoảng hai phần ba là trường phi tôn giáo, một phần ba là trường tôn giáo) đã nhận 525 khoản tặng

(d) 288 institutions dedicated to art, culture or the humanities received 447 gifts

(d) 288 tổ chức dành cho nghệ thuật, văn hóa hoặc nhân văn đã nhận 447 khoản tặng

(e) 180 religious social-service organizations (split about equally between Christian and Jewish) received 411 gifts

(e) 180 tổ chức dịch vụ xã hội tôn giáo (chia khoảng đều nhau giữa Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo) đã nhận 411 khoản tặng

(f) 445 secular social-service organizations (about 40% youth-related) received 759 gifts

(f) 445 tổ chức dịch vụ xã hội phi tôn giáo (khoảng 40% liên quan đến thanh thiếu niên) đã nhận 759 khoản tặng

(g) 153 hospitals received 261 gifts

(g) 153 bệnh viện đã nhận 261 khoản tặng

(h) 186 health-related organizations (American Heart Association, American Cancer Society, etc.) received 320 gifts

(h) 186 tổ chức liên quan đến y tế (American Heart Association, American Cancer Society, v.v.) đã nhận 320 khoản tặng

Three things about this list seem particularly interesting to me. First, to some degree it indicates what people choose to give money to when they are acting of their own accord, free of pressure from solicitors or emotional appeals from charities. Second, the contributions programs of publicly-held companies almost never allow gifts to churches and synagogues, yet clearly these institutions are what many shareholders would like to support. Third, the gifts made by our shareholders display conflicting philosophies: 130 gifts were directed to organizations that believe in making abortions readily available for women and 30 gifts were directed to organizations (other than churches) that discourage or are opposed to abortion.

Có ba điều về danh sách này mà tôi thấy đặc biệt thú vị. Thứ nhất, ở một mức độ nào đó, nó cho thấy người ta chọn trao tiền cho điều gì khi họ hành động theo ý mình, không chịu áp lực từ những người đi quyên góp hay những lời kêu gọi đánh vào cảm xúc từ các tổ chức từ thiện. Thứ hai, các chương trình đóng góp của các công ty đại chúng hầu như không bao giờ cho phép tặng cho nhà thờ và giáo đường Do Thái, vậy mà rõ ràng đây là những tổ chức mà nhiều cổ đông muốn ủng hộ. Thứ ba, các khoản tặng của cổ đông chúng ta thể hiện những triết lý trái ngược nhau: 130 khoản tặng được hướng tới các tổ chức tin vào việc giúp phụ nữ dễ dàng tiếp cận việc phá thai và 30 khoản tặng được hướng tới các tổ chức (ngoài nhà thờ) can ngăn hoặc phản đối việc phá thai.

Last year I told you that I was thinking of raising the amount that Berkshire shareholders can give under our designated-contributions program and asked for your comments. We received a few well-written letters opposing the entire idea, on the grounds that it was our job to run the business and not our job to force shareholders into making charitable gifts. Most of the shareholders responding, however, noted the tax efficiency of the plan and urged us to increase the designated amount. Several shareholders who have given stock to their children or grandchildren told me that they consider the program a particularly good way to get youngsters thinking at an early age about the subject of giving. These people, in other words, perceive the program to be an educational, as well as philanthropic, tool. The bottom line is that we did raise the amount in 1993, from $8 per share to $10.

Năm ngoái tôi đã nói với các bạn rằng tôi đang cân nhắc nâng số tiền mà cổ đông Berkshire có thể tặng theo chương trình đóng góp được chỉ định của chúng ta và đã đề nghị các bạn cho ý kiến. Chúng tôi đã nhận được một vài lá thư viết hay phản đối toàn bộ ý tưởng này, với lý do rằng việc của chúng tôi là điều hành doanh nghiệp chứ không phải ép cổ đông đóng góp từ thiện. Tuy nhiên, phần lớn các cổ đông phản hồi đã lưu ý đến hiệu quả về thuế của chương trình và thúc giục chúng tôi tăng số tiền được chỉ định. Một số cổ đông đã tặng cổ phiếu cho con hoặc cháu của mình nói với tôi rằng họ coi chương trình là một cách đặc biệt tốt để khiến lớp trẻ suy nghĩ ngay từ sớm về chủ đề cho đi. Nói cách khác, những người này nhìn nhận chương trình như một công cụ giáo dục, cũng như một công cụ từ thiện. Kết quả cuối cùng là chúng tôi đã nâng số tiền này trong năm 1993, từ 8 USD mỗi cổ phiếu lên 10 USD.

In addition to the shareholder-designated contributions that Berkshire distributes, our operating businesses make contributions, including merchandise, averaging about $2.5 million annually. These contributions support local charities, such as The United Way, and produce roughly commensurate benefits for our businesses.

Ngoài các khoản đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định mà Berkshire phân phối, các doanh nghiệp hoạt động của chúng ta cũng thực hiện các khoản đóng góp, kể cả bằng hàng hóa, bình quân khoảng 2,5 triệu USD mỗi năm. Những khoản đóng góp này hỗ trợ các tổ chức từ thiện địa phương, như The United Way, và mang lại những lợi ích gần như tương xứng cho các doanh nghiệp của chúng ta.

We suggest that new shareholders read the description of our shareholder-designated contributions program that appears on pages 50-51. To participate in future programs, you must make sure your shares are registered in the name of the actual owner, not in the nominee name of a broker, bank or depository. Shares not so registered on August 31, 1994 will be ineligible for the 1994 program.

Chúng tôi đề nghị các cổ đông mới đọc phần mô tả chương trình đóng góp từ thiện do cổ đông chỉ định của chúng ta ở các trang 50-51. Để tham gia các chương trình trong tương lai, các bạn phải bảo đảm rằng cổ phiếu của mình được đăng ký đứng tên chủ sở hữu thực sự, chứ không phải dưới danh nghĩa người đứng tên hộ (nominee name) là công ty môi giới, ngân hàng hay tổ chức lưu ký. Cổ phiếu không được đăng ký như vậy vào ngày 31 tháng 8 năm 1994 sẽ không đủ điều kiện tham gia chương trình năm 1994.

A Few Personal Items

Vài điều riêng tư

Mrs. B - Rose Blumkin - had her 100th birthday on December 3, 1993. (The candles cost more than the cake.) That was a day on which the store was scheduled to be open in the evening. Mrs. B, who works seven days a week, for however many hours the store operates, found the proper decision quite obvious: She simply postponed her party until an evening when the store was closed.

Mrs. B - Rose Blumkin - đã mừng sinh nhật lần thứ 100 vào ngày 3 tháng 12 năm 1993. (Tiền nến còn đắt hơn tiền bánh.) Hôm đó là ngày cửa hàng theo lịch sẽ mở cửa vào buổi tối. Mrs. B, người làm việc bảy ngày một tuần, trong suốt bao nhiêu giờ cửa hàng còn hoạt động, thấy quyết định đúng đắn là hoàn toàn hiển nhiên: Bà chỉ đơn giản dời bữa tiệc của mình sang một buổi tối cửa hàng đóng cửa.

Mrs. B's story is well-known but worth telling again. She came to the United States 77 years ago, unable to speak English and devoid of formal schooling. In 1937, she founded the Nebraska Furniture Mart with $500. Last year the store had sales of $200 million, a larger amount by far than that recorded by any other home furnishings store in the United States. Our part in all of this began ten years ago when Mrs. B sold control of the business to Berkshire Hathaway, a deal we completed without obtaining audited financial statements, checking real estate records, or getting any warranties. In short, her word was good enough for us.

Câu chuyện của Mrs. B đã được nhiều người biết nhưng vẫn đáng để kể lại. Bà đến Hoa Kỳ 77 năm trước, không nói được tiếng Anh và không hề được học hành chính quy. Năm 1937, bà thành lập Nebraska Furniture Mart với 500 USD. Năm ngoái, cửa hàng đạt doanh số 200 triệu USD, một con số lớn hơn rất nhiều so với con số ghi nhận được của bất kỳ cửa hàng nội thất gia đình nào khác tại Hoa Kỳ. Phần của chúng ta trong toàn bộ câu chuyện này bắt đầu từ mười năm trước khi Mrs. B bán quyền kiểm soát doanh nghiệp cho Berkshire Hathaway, một thương vụ chúng ta hoàn tất mà không cần có báo cáo tài chính đã kiểm toán, không kiểm tra hồ sơ bất động sản, cũng không nhận bất kỳ cam kết bảo đảm nào. Nói ngắn gọn, lời nói của bà là đủ đối với chúng ta.

Naturally, I was delighted to attend Mrs. B's birthday party. After all, she's promised to attend my 100th.

Đương nhiên, tôi rất vui được dự tiệc sinh nhật của Mrs. B. Dù sao thì bà cũng đã hứa sẽ dự sinh nhật lần thứ 100 của tôi.

Katharine Graham retired last year as the chairman of The Washington Post Company, having relinquished the CEO title three years ago. In 1973, we purchased our stock in her company for about $10 million. Our holding now garners $7 million a year in dividends and is worth over $400 million. At the time of our purchase, we knew that the economic prospects of the company were good. But equally important, Charlie and I concluded that Kay would prove to be an outstanding manager and would treat all shareholders honorably. That latter consideration was particularly important because The Washington Post Company has two classes of stock, a structure that we've seen some managers abuse.

Katharine Graham đã nghỉ hưu năm ngoái khỏi vị trí Chủ tịch của The Washington Post Company, sau khi đã thôi giữ chức danh CEO từ ba năm trước. Năm 1973, chúng ta đã mua cổ phiếu trong công ty của bà với giá khoảng 10 triệu USD. Khoản nắm giữ của chúng ta hiện thu về 7 triệu USD cổ tức mỗi năm và có giá trị hơn 400 triệu USD. Vào thời điểm mua, chúng tôi biết rằng triển vọng kinh tế của công ty là tốt. Nhưng điều quan trọng không kém, Charlie và tôi đã kết luận rằng Kay sẽ chứng tỏ là một nhà quản lý xuất sắc và sẽ đối xử với tất cả cổ đông một cách đàng hoàng. Cân nhắc thứ hai này đặc biệt quan trọng vì The Washington Post Company có hai loại cổ phiếu, một cấu trúc mà chúng tôi đã thấy một số nhà quản lý lạm dụng.

All of our judgments about this investment have been validated by events. Kay's skills as a manager were underscored this past year when she was elected by Fortune's Board of Editors to the Business Hall of Fame. On behalf of our shareholders, Charlie and I had long ago put her in Berkshire's Hall of Fame.

Mọi nhận định của chúng tôi về khoản đầu tư này đều đã được các sự kiện xác nhận. Kỹ năng quản lý của Kay đã được khẳng định rõ trong năm vừa qua khi bà được Ban Biên tập của Fortune bầu vào Đại sảnh Danh vọng Kinh doanh (Business Hall of Fame). Thay mặt cổ đông của chúng ta, Charlie và tôi đã đưa bà vào Đại sảnh Danh vọng của Berkshire từ lâu.

Another of last year's retirees was Don Keough of Coca-Cola, although, as he puts it, his retirement lasted "about 14 hours." Don is one of the most extraordinary human beings I've ever known - a man of enormous business talent, but, even more important, a man who brings out the absolute best in everyone lucky enough to associate with him. Coca-Cola wants its product to be present at the happy times of a person's life. Don Keough, as an individual, invariably increases the happiness of those around him. It's impossible to think about Don without feeling good.

Một người khác nghỉ hưu năm ngoái là Don Keough của Coca-Cola, dù, như ông ấy nói, việc nghỉ hưu của ông chỉ kéo dài "khoảng 14 giờ." Don là một trong những con người phi thường nhất mà tôi từng biết - một người có tài kinh doanh to lớn, nhưng, quan trọng hơn nữa, là một người khơi dậy những gì tốt đẹp nhất ở bất kỳ ai đủ may mắn được giao thiệp với ông. Coca-Cola muốn sản phẩm của mình có mặt trong những khoảnh khắc hạnh phúc của đời người. Don Keough, với tư cách một cá nhân, luôn luôn làm tăng niềm hạnh phúc của những người xung quanh. Không thể nghĩ về Don mà không cảm thấy vui vẻ.

I will edge up to how I met Don by slipping in a plug for my neighborhood in Omaha: Though Charlie has lived in California for 45 years, his home as a boy was about 200 feet away from the house where I now live; my wife, Susie, grew up 1 1/2 blocks away; and we have about 125 Berkshire shareholders in the zip code. As for Don, in 1958 he bought the house directly across the street from mine. He was then a coffee salesman with a big family and a small income.

Tôi sẽ dần dần kể đến việc tôi đã gặp Don như thế nào bằng cách lồng vào một lời quảng cáo cho khu phố của tôi ở Omaha: Dù Charlie đã sống ở California 45 năm, ngôi nhà thời thơ ấu của ông ấy chỉ cách ngôi nhà tôi đang sống hiện nay khoảng 200 feet; vợ tôi, Susie, lớn lên cách đó 1 1/2 dãy phố; và chúng ta có khoảng 125 cổ đông Berkshire trong cùng mã bưu chính này. Còn về Don, năm 1958 ông ấy mua ngôi nhà ngay đối diện nhà tôi bên kia đường. Khi đó ông là một nhân viên bán cà phê với một gia đình đông con và thu nhập ít ỏi.

The impressions I formed in those days about Don were a factor in my decision to have Berkshire make a record $1 billion investment in Coca-Cola in 1988-89. Roberto Goizueta had become CEO of Coke in 1981, with Don alongside as his partner. The two of them took hold of a company that had stagnated during the previous decade and moved it from $4.4 billion of market value to $58 billion in less than 13 years. What a difference a pair of managers like this makes, even when their product has been around for 100 years.

Những ấn tượng tôi hình thành về Don trong những ngày đó là một yếu tố trong quyết định của tôi để Berkshire thực hiện khoản đầu tư kỷ lục 1 tỷ USD vào Coca-Cola trong giai đoạn 1988-89. Roberto Goizueta đã trở thành CEO của Coke năm 1981, với Don sát cánh bên cạnh như người cộng sự của ông. Hai người họ đã nắm lấy một công ty từng trì trệ trong suốt thập kỷ trước đó và đưa công ty từ 4,4 tỷ USD giá trị thị trường lên 58 tỷ USD trong chưa đầy 13 năm. Một cặp nhà quản lý như thế này tạo nên khác biệt lớn biết bao, ngay cả khi sản phẩm của họ đã có mặt suốt 100 năm.

Frank Rooney did double duty last year. In addition to leading H. H. Brown to record profits - 35% above the 1992 high - he also was key to our merger with Dexter.

Frank Rooney đã kiêm hai nhiệm vụ trong năm ngoái. Ngoài việc dẫn dắt H. H. Brown đạt lợi nhuận kỷ lục - cao hơn 35% so với mức đỉnh năm 1992 - ông ấy còn đóng vai trò then chốt trong thương vụ sáp nhập của chúng ta với Dexter.

Frank has known Harold Alfond and Peter Lunder for decades, and shortly after our purchase of H. H. Brown, told me what a wonderful operation they managed. He encouraged us to get together and in due course we made a deal. Frank told Harold and Peter that Berkshire would provide an ideal corporate "home" for Dexter, and that assurance undoubtedly contributed to their decision to join with us.

Frank đã quen biết Harold Alfond và Peter Lunder hàng chục năm, và không lâu sau khi chúng ta mua H. H. Brown, ông ấy đã kể với tôi về hoạt động kinh doanh tuyệt vời mà họ quản lý. Ông ấy khuyến khích chúng tôi gặp gỡ nhau và đến đúng thời điểm chúng tôi đã đi đến một thỏa thuận. Frank nói với Harold và Peter rằng Berkshire sẽ là một "ngôi nhà" doanh nghiệp lý tưởng cho Dexter, và lời bảo đảm đó chắc chắn đã góp phần vào quyết định gia nhập với chúng ta của họ.

I've told you in the past of Frank's extraordinary record in building Melville Corp. during his 23 year tenure as CEO. Now, at 72, he's setting an even faster pace at Berkshire. Frank has a low-key, relaxed style, but don't let that fool you. When he swings, the ball disappears far over the fence.

Tôi đã từng kể với các bạn về thành tích phi thường của Frank trong việc xây dựng Melville Corp. trong 23 năm ông ấy giữ chức CEO. Giờ đây, ở tuổi 72, ông ấy còn đang tạo ra nhịp độ nhanh hơn nữa tại Berkshire. Frank có phong cách trầm tĩnh, thoải mái, nhưng đừng để điều đó đánh lừa các bạn. Khi ông ấy vung gậy, quả bóng biến mất xa tít bên kia hàng rào.

The Annual Meeting

Đại hội cổ đông thường niên

This year the Annual Meeting will be held at the Orpheum Theater in downtown Omaha at 9 a.m. on Monday, April 25, 1994. A record 2,200 people turned up for the meeting last year, but the theater can handle many more. We will have a display in the lobby featuring many of our consumer products - candy, spray guns, shoes, cutlery, encyclopedias, and the like. Among my favorites slated to be there is a See's candy assortment that commemorates Mrs. B's 100th birthday and that features her picture, rather than Mrs. See's, on the package.

Năm nay Đại hội cổ đông thường niên sẽ được tổ chức tại Orpheum Theater ở trung tâm Omaha lúc 9 sáng thứ Hai, ngày 25 tháng 4 năm 1994. Năm ngoái có số người tham dự đại hội kỷ lục là 2.200 người, nhưng nhà hát có thể chứa nhiều người hơn thế rất nhiều. Chúng tôi sẽ có một khu trưng bày ở sảnh giới thiệu nhiều sản phẩm tiêu dùng của chúng ta - kẹo, súng phun, giày, dao kéo, bách khoa toàn thư, và những thứ tương tự. Trong số những món tôi yêu thích dự kiến có mặt ở đó có một hộp kẹo See's tổng hợp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của Mrs. B, trên bao bì có in hình bà, thay vì hình Mrs. See.

We recommend that you promptly get hotel reservations at one of these hotels: (1) The Radisson-Redick Tower, a small (88 rooms) but nice hotel across the street from the Orpheum;

Chúng tôi khuyên các bạn nhanh chóng đặt phòng khách sạn tại một trong các khách sạn sau: (1) The Radisson-Redick Tower, một khách sạn nhỏ (88 phòng) nhưng đẹp, nằm bên kia đường đối diện Orpheum;

(2) the much larger Red Lion Hotel, located about a five-minute walk from the Orpheum; or (3) the Marriott, located in West Omaha about 100 yards from Borsheim's, which is a twenty-minute drive from downtown. We will have buses at the Marriott that will leave at 8 and 8 for the meeting and return after it ends.

(2) Red Lion Hotel lớn hơn nhiều, cách Orpheum khoảng năm phút đi bộ; hoặc (3) Marriott, nằm ở West Omaha, cách Borsheim's khoảng 100 yard, cách trung tâm thành phố hai mươi phút lái xe. Chúng tôi sẽ bố trí xe buýt tại Marriott khởi hành lúc 8 và 8 để đến đại hội và quay về sau khi đại hội kết thúc.

An attachment to our proxy material explains how you can obtain the card you will need for admission to the meeting. With the admission card, we will enclose information about parking facilities located near the Orpheum. If you are driving, come a little early. Nearby lots fill up quickly and you may have to walk a few blocks.

Một tài liệu đính kèm theo tài liệu ủy quyền biểu quyết (proxy material) của chúng ta giải thích cách các bạn có thể nhận được thẻ cần thiết để vào dự đại hội. Cùng với thẻ vào cửa, chúng tôi sẽ gửi kèm thông tin về các bãi đỗ xe nằm gần Orpheum. Nếu các bạn lái xe, hãy đến sớm một chút. Các bãi gần đó kín chỗ rất nhanh và các bạn có thể phải đi bộ vài dãy phố.

As usual, we will have buses to take you to Nebraska Furniture Mart and Borsheim's after the meeting and to take you from there to downtown hotels or the airport later. Those of you arriving early can visit the Furniture Mart any day of the week; it is open from 10 a.m. to 5 p.m. on Saturdays and from noon to 5 p.m. on Sundays. Borsheim's normally is closed on Sunday but will be open for shareholders and their guests from noon to 6 p.m. on Sunday, April 24.

Như thường lệ, chúng tôi sẽ có xe buýt đưa các bạn đến Nebraska Furniture Mart và Borsheim's sau đại hội và sau đó đưa các bạn từ đó về các khách sạn ở trung tâm thành phố hoặc ra sân bay. Những bạn đến sớm có thể ghé Furniture Mart vào bất kỳ ngày nào trong tuần; cửa hàng mở cửa từ 10 giờ sáng đến 5 chiều vào thứ Bảy và từ trưa đến 5 chiều vào Chủ nhật. Borsheim's thường đóng cửa vào Chủ nhật nhưng sẽ mở cửa cho cổ đông và khách của họ từ trưa đến 6 giờ chiều Chủ nhật, ngày 24 tháng 4.

In past trips to Borsheim's, many of you have met Susan Jacques. Early in 1994, Susan was made President and CEO of the company, having risen in 11 years from a $4-an-hour job that she took at the store when she was 23. Susan will be joined at Borsheim's on Sunday by many of the managers of our other businesses, and Charlie and I will be there as well.

Trong những lần ghé Borsheim's trước đây, nhiều bạn đã gặp Susan Jacques. Đầu năm 1994, Susan được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc kiêm CEO của công ty, sau khi đã thăng tiến trong 11 năm từ một công việc 4 USD một giờ mà cô nhận ở cửa hàng khi 23 tuổi. Vào Chủ nhật, cùng với Susan tại Borsheim's sẽ có nhiều người quản lý của các doanh nghiệp khác của chúng ta, và Charlie và tôi cũng sẽ có mặt ở đó.

On the previous evening, Saturday, April 23, there will be a baseball game at Rosenblatt Stadium between the Omaha Royals and the Nashville Sounds (which could turn out to be Michael Jordan's team). As you may know, a few years ago I bought 25% of the Royals (a capital-allocation decision for which I will not become famous) and this year the league has cooperatively scheduled a home stand at Annual Meeting time.

Vào tối hôm trước, thứ Bảy, ngày 23 tháng 4, sẽ có một trận bóng chày tại Rosenblatt Stadium giữa Omaha Royals và Nashville Sounds (đội có thể hóa ra là đội của Michael Jordan). Như các bạn có thể đã biết, vài năm trước tôi đã mua 25% Royals (một quyết định phân bổ vốn mà tôi sẽ không trở nên nổi tiếng nhờ nó) và năm nay liên đoàn đã thiện chí xếp một loạt trận sân nhà vào đúng thời gian Đại hội cổ đông thường niên.

I will throw the first pitch on the 23rd, and it's a certainty that I will improve on last year's humiliating performance. On that occasion, the catcher inexplicably called for my "sinker" and I dutifully delivered a pitch that barely missed my foot. This year, I will go with my high hard one regardless of what the catcher signals, so bring your speed-timing devices. The proxy statement will include information about obtaining tickets to the game. I regret to report that you won't have to buy them from scalpers.

Tôi sẽ ném quả bóng đầu tiên vào ngày 23, và chắc chắn rằng tôi sẽ làm tốt hơn màn trình diễn bẽ mặt năm ngoái. Lần đó, người bắt bóng không hiểu sao lại ra hiệu cho cú "sinker" (bóng chìm) của tôi và tôi đã ngoan ngoãn tung ra một cú ném suýt trúng chân mình. Năm nay, tôi sẽ ném cú bóng cao và mạnh của mình bất kể người bắt bóng ra hiệu gì, vì vậy hãy mang theo thiết bị đo tốc độ của các bạn. Tài liệu ủy quyền biểu quyết sẽ có thông tin về cách nhận vé xem trận đấu. Tôi rất tiếc phải thông báo rằng các bạn sẽ không phải mua vé từ những kẻ phe vé.

Warren E. Buffett
Chairman of the Board

Warren E. Buffett
Chủ tịch Hội đồng quản trị

March 1, 1994

Ngày 1 tháng 3 năm 1994

Nhận bài mới qua email

Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.

Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.

Gymnopédie No. 1Erik Satie