Bỏ qua menu, tới nội dung
Học đầu tư giá trị cùng Buffett & MungerCủ khoai tây lười động đậy

Thư cổ đôngBuffett

Thư Buffett Partnership năm 1968

Quỹ lập kỷ lục lãi 58,8% so với Dow 7,7%, tổng lãi 40.032.691 USD, Diversified Retailing và Berkshire Hathaway lãi sau thuế trên 5 triệu USD, kèm mục hồi ức về ngày lập quỹ 05/05/1956.

Buffett Partnership, Ltd., năm 1968. Bản dịch của Khoai Lười, đăng

Dịch từ bản gốc tại archive.org, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: bản sưu tập Internet Archive (archive.org), không phải trang chính chủ.

Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.

July 11, 1968

Ngày 11 tháng 7 năm 1968

July 11th, 1968

Ngày 11 tháng 7 năm 1968

First Half Performance

Kết quả hoạt động nửa đầu năm

During the first half of 1968, the Dow-Jones Industrial Average declined fractionally from 905 to 898. Ownership of the Dow would also have produced dividends of about $15 during the half, resulting in an overall gain of 0.9% for that Average. The Dow, once again, was an anemic competitor for most investment managers, although it was not surpassed by anything like the margins of 1967.

Trong nửa đầu năm 1968, chỉ số Dow-Jones Industrial Average đã giảm nhẹ một chút từ 905 xuống 898. Việc sở hữu chỉ số Dow cũng sẽ mang lại khoản cổ tức khoảng 15 USD trong nửa năm, đem lại mức lãi tổng thể 0,9% cho chỉ số này. Một lần nữa, chỉ số Dow là một đối thủ èo uột đối với hầu hết các nhà quản lý đầu tư, mặc dù mức chênh lệch mà chỉ số này bị vượt qua còn kém xa so với năm 1967.

Our own performance was unusually good during the first half, with an overall gain of 16% excluding any change in valuation for controlled companies (which represented slightly over one-third of net assets at the beginning of the year). However, any release of adrenalin is unwarranted. Our marketable security investments are heavily concentrated in a few situations, making relative performance potentially more volatile than in widely diversified investment vehicles. Our long term performance goals are as stated in the revised "Ground Rules" and I will be quite happy if we achieve those limited objectives over a period of years. The following table summarizes performance to date on the usual basis:

Thành tích của chính chúng ta trong nửa đầu năm tốt một cách khác thường, với mức lãi tổng thể 16%, không tính bất kỳ thay đổi nào trong việc định giá các công ty do chúng ta kiểm soát (vốn chiếm nhỉnh hơn một phần ba tài sản ròng (net assets) vào đầu năm). Tuy nhiên, chẳng có lý do gì để adrenaline trào dâng. Các khoản đầu tư vào chứng khoán khả mại (marketable security) của chúng ta tập trung cao độ vào một vài tình huống, khiến thành tích tương đối có khả năng biến động mạnh hơn so với các phương tiện đầu tư được đa dạng hóa rộng rãi. Các mục tiêu thành tích dài hạn của chúng ta là như đã nêu trong bản "Các Nguyên tắc Nền tảng (Ground Rules)" sửa đổi, và tôi sẽ hoàn toàn hài lòng nếu chúng ta đạt được những mục tiêu có giới hạn đó qua một khoảng thời gian nhiều năm. Bảng sau đây tóm tắt thành tích tính đến nay theo cách thông thường:

        Year                Overall Results          Partnership Results        Limited Partners’
                            From Dow (1)                     (2)                   Results (3)
         1957                   -8.4%                      10.4%                      9.3%
         1958                   38.5%                      40.9%                     32.2%
         1959                   20.0%                      25.9%                     20.9%
         1960                   -6.2%                      22.8%                     18.6%
         1961                   22.4%                      45.9%                     35.9%
         1962                   -7.6%                      13.9%                     11.9%
         1963                   20.6%                      38.7%                     30.5%
         1964                   18.7%                      27.8%                     22.3%
         1965                   14.2%                      47.2%                     36.9%
         1966                  -15.6%                      20.4%                     16.8%
         1967                   19.0%                      35.9%                     28.4%
   First Half 1968               0.9%                      16.0%                     13.5%

 Cumulative Results              167.7%                    1880.0%                    1072.0%
Annual Compounded                 8.9%                      29.6%                      23.8%
       Rate
        Năm                 Kết quả tổng thể         Kết quả Quỹ hợp danh       Kết quả thành viên
                            từ chỉ số Dow (1)                (2)                   góp vốn (3)
         1957                   -8,4%                      10,4%                      9,3%
         1958                   38,5%                      40,9%                     32,2%
         1959                   20,0%                      25,9%                     20,9%
         1960                   -6,2%                      22,8%                     18,6%
         1961                   22,4%                      45,9%                     35,9%
         1962                   -7,6%                      13,9%                     11,9%
         1963                   20,6%                      38,7%                     30,5%
         1964                   18,7%                      27,8%                     22,3%
         1965                   14,2%                      47,2%                     36,9%
         1966                  -15,6%                      20,4%                     16,8%
         1967                   19,0%                      35,9%                     28,4%
   Nửa đầu 1968                  0,9%                      16,0%                     13,5%

 Kết quả lũy kế                  167,7%                   1.880,0%                   1.072,0%
Tỷ suất sinh lời                  8,9%                      29,6%                      23,8%
  kép hằng năm

(1) Based on yearly changes in the value of the Dow plus dividends that would have been received through ownership of the Dow during that year. The table includes all complete years of partnership activity.

(1) Dựa trên biến động hằng năm của giá trị chỉ số Dow cộng với cổ tức lẽ ra đã nhận được thông qua việc sở hữu chỉ số Dow trong năm đó. Bảng bao gồm tất cả các năm hoạt động trọn vẹn của quỹ hợp danh.

(2) For 1957-61 consists of combined results of all predecessor limited partnerships operating throughout the entire year after all expenses but before distributions to partners or allocations to the general partner.

(2) Giai đoạn 1957-61 gồm kết quả gộp của tất cả các quỹ hợp danh tiền thân hoạt động trong suốt cả năm, sau mọi chi phí nhưng trước các khoản phân phối cho các thành viên hoặc phần phân bổ cho thành viên hợp danh (general partner).

(3) For 1957-61 computed on the basis of the preceding column of partnership results allowing for allocation to the general partner based upon the present partnership agreement, but before monthly withdrawals by limited partners.

(3) Giai đoạn 1957-61 được tính trên cơ sở cột kết quả của quỹ hợp danh ở trước, có tính đến phần phân bổ cho thành viên hợp danh dựa trên thỏa thuận hợp danh (partnership agreement) hiện hành, nhưng trước các khoản rút vốn hằng tháng của các thành viên góp vốn (limited partners).

Although we revise valuations of our controlled companies only at yearend, it presently appears that our share of their 1968 earnings will be something over $3 million. Those with primary responsibility for their operations, Ken Chace at Berkshire Hathaway, Louis Kohn at Hochschild Kohn, Jack Ringwalt at National Indemnity and Ben Rosner at Associated Cotton Shops, continue to meld effort and ability into results.

Mặc dù chúng tôi chỉ điều chỉnh việc định giá các công ty do chúng ta kiểm soát vào cuối năm, hiện tại có vẻ như phần của chúng ta trong lợi nhuận năm 1968 của các công ty này sẽ ở mức hơn 3 triệu USD một chút. Những người chịu trách nhiệm chính về hoạt động của các công ty này, Ken Chace tại Berkshire Hathaway, Louis Kohn tại Hochschild Kohn, Jack Ringwalt tại National Indemnity và Ben Rosner tại Associated Cotton Shops, tiếp tục hòa quyện nỗ lực và năng lực thành kết quả.

This year, Diversified Retailing Company (owner of Hochschild Kohn and Associated Cotton Shops) issued its first published annual report. This was occasioned by the public sale of debentures to approximately 1,000 investors last December. Thus, DRC is in the rather unusual position of being a public company from a creditors' viewpoint, but a private one (there are three stockholders -BPL owns 80%) for ownership purposes. I am enclosing the DRC report with this letter (except where duplicates go to one house hold) and plan to continue to send them along with future mid-year letters.

Năm nay, Diversified Retailing Company (chủ sở hữu của Hochschild Kohn và Associated Cotton Shops) đã phát hành báo cáo thường niên công bố ra bên ngoài đầu tiên của mình. Việc này xuất phát từ đợt chào bán ra công chúng trái phiếu không có bảo đảm (debentures) cho khoảng 1.000 nhà đầu tư vào tháng 12 năm ngoái. Như vậy, DRC ở vào một vị thế khá bất thường: là một công ty đại chúng xét từ góc nhìn của các chủ nợ, nhưng lại là một công ty tư nhân (có ba cổ đông - BPL sở hữu 80%) xét về mặt sở hữu. Tôi gửi kèm báo cáo của DRC cùng lá thư này (trừ trường hợp sẽ có bản trùng gửi đến cùng một hộ gia đình) và dự định tiếp tục gửi các báo cáo này kèm theo những lá thư giữa năm trong tương lai.

As I have mentioned before, we cannot make the same sort of money out of permanent ownership of controlled businesses that can be made from buying and reselling such businesses, or from skilled investment in marketable securities. Nevertheless, they offer a pleasant long term form of activity (when conducted in conjunction with high grade, able people) at satisfactory rates of return.

Như tôi đã đề cập trước đây, chúng ta không thể kiếm được từ việc sở hữu lâu dài các doanh nghiệp do chúng ta kiểm soát cùng mức tiền như mức có thể kiếm được từ việc mua rồi bán lại những doanh nghiệp như vậy, hoặc từ việc đầu tư khéo léo vào chứng khoán khả mại. Tuy vậy, các doanh nghiệp này mang lại một hình thức hoạt động dài hạn dễ chịu (khi được tiến hành cùng với những con người có phẩm chất cao và có năng lực) với các tỷ suất sinh lời thỏa đáng.

Investment Companies

Các công ty đầu tư (Investment Companies)

On the following page is the form sheet on the usual investment companies:

Ở trang sau là bảng phong độ của các công ty đầu tư thường lệ:

    Year         Mass. Inv.       Investors     Lehman (2)       Tri-Cont          Dow          Limited
                 Trust (1)        Stock (1)                          (2)                        Partners
    1957          -11.4%           -12.4%         -11.4%           -2.4%           -8.4%         9.3%
    1958           42.7%            47.5%          40.8%           33.2%           38.5%         32.2%
    1959            9.0%            10.3%           8.1%            8.4%           20.0%         20.9%
    1960           -1.0%            -0.6%           2.5%            2.8%           -6.2%         18.6%
    1961           25.6%            24.9%          23.6%           22.5%           22.4%         35.9%
    1962           -9.8%           -13.4%         -14.4%          -10.0%           -7.6%         11.9%
    1963           20.0%            16.5%          23.7%           18.3%           20.6%         30.5%
    1964           15.9%            14.3%          13.6%           12.6%           18.7%         22.3%
    1965           10.2%             9.8%          19.0%           10.7%           14.2%         36.9%
    1966           -7.7%           -10.0%          -2.6%           -6.9%          -15.6%         16.8%
    1967           20.0%            22.8%          28.0%           25.4%           19.0%         28.4%
  First Half        5.1%             2.8%           4.4%            2.0%            0.9%         13.5%
    1968

 Cumulative        175.7%         154.5%          218.6%          186.7%         167.7%         1072.0%
  Results
  Annual            9.2%            8.5%           10.6%           9.6%           8.9%           23.8%
Compounded
   Rate
    Năm          Mass. Inv.       Investors     Lehman (2)       Tri-Cont          Dow          Thành viên
                 Trust (1)        Stock (1)                          (2)                        góp vốn
    1957          -11,4%           -12,4%         -11,4%           -2,4%           -8,4%         9,3%
    1958           42,7%            47,5%          40,8%           33,2%           38,5%         32,2%
    1959            9,0%            10,3%           8,1%            8,4%           20,0%         20,9%
    1960           -1,0%            -0,6%           2,5%            2,8%           -6,2%         18,6%
    1961           25,6%            24,9%          23,6%           22,5%           22,4%         35,9%
    1962           -9,8%           -13,4%         -14,4%          -10,0%           -7,6%         11,9%
    1963           20,0%            16,5%          23,7%           18,3%           20,6%         30,5%
    1964           15,9%            14,3%          13,6%           12,6%           18,7%         22,3%
    1965           10,2%             9,8%          19,0%           10,7%           14,2%         36,9%
    1966           -7,7%           -10,0%          -2,6%           -6,9%          -15,6%         16,8%
    1967           20,0%            22,8%          28,0%           25,4%           19,0%         28,4%
  Nửa đầu           5,1%             2,8%           4,4%            2,0%            0,9%         13,5%
    1968

 Kết quả           175,7%         154,5%          218,6%          186,7%         167,7%        1.072,0%
  lũy kế
  Tỷ suất           9,2%            8,5%           10,6%           9,6%           8,9%           23,8%
sinh lời kép
  hằng năm

(1) Computed from changes in asset value plus any distributions to holders of record during year.

(1) Được tính từ biến động giá trị tài sản cộng với mọi khoản phân phối cho cổ đông có tên trong danh sách (holders of record) trong năm.

(2) From 1968 Moody's Bank & Finance Manual for 1957 -1967. Estimated for first half of 1968.

(2) Lấy từ Moody's Bank & Finance Manual năm 1968 cho giai đoạn 1957-1967. Ước tính cho nửa đầu năm 1968.

Due to a sluggish performance by the Dow in the last few years, the four big funds now have, on average, about a one-half point per annum advantage over the Dow for the full period.

Do thành tích ì ạch của chỉ số Dow trong vài năm gần đây, bốn quỹ lớn hiện nay, tính bình quân, có lợi thế khoảng nửa điểm phần trăm mỗi năm so với chỉ số Dow trong toàn bộ giai đoạn.

The Present Environment

Bối cảnh hiện tại

I make no effort to predict the course of general business or the stock market. Period. However, currently there are practices snowballing in the security markets and business world which, while devoid of short term predictive value, bother me as to possible long term consequences.

Tôi không hề cố gắng dự đoán diễn biến của tình hình kinh doanh chung hay của thị trường chứng khoán. Chấm hết. Tuy nhiên, hiện đang có những lối làm ăn lan rộng như quả cầu tuyết trên các thị trường chứng khoán và trong giới kinh doanh, những lối làm ăn mà, dù không có giá trị dự báo ngắn hạn nào, vẫn khiến tôi bận tâm về những hệ quả dài hạn có thể xảy ra.

I know that some of you are not particularly interested (and shouldn't be) in what is taking place on the financial stage. For those who are, I am enclosing a reprint of an unusually clear and simple article which lays bare just what is occurring on a mushrooming scale. Spectacular amounts of money are being made by those participating (whether as originators, top employees. professional advisors, investment bankers, stock speculators, etc… ) in the chain-letter type stock-promotion vogue. The game is being played by the gullible, the self-hypnotized, and the cynical. To create the proper illusions, it frequently requires accounting distortions (one particularly progressive entrepreneur told me he believed in "bold, imaginative accounting"), tricks of capitalization and camouflage of the true nature of the operating businesses involved. The end product is popular, respectable and immensely profitable (I'll let the philosophers figure in which order those adjectives should be placed).

Tôi biết rằng một số bạn không đặc biệt quan tâm (và cũng không nên quan tâm) đến những gì đang diễn ra trên sân khấu tài chính. Với những ai quan tâm, tôi gửi kèm bản in lại một bài báo rõ ràng và đơn giản một cách khác thường, phơi bày chính xác những gì đang diễn ra trên quy mô bùng phát như nấm. Những người tham gia (dù là người khởi xướng, nhân viên cấp cao, cố vấn chuyên nghiệp, giới ngân hàng đầu tư, nhà đầu cơ cổ phiếu, v.v.…) vào trào lưu quảng bá cổ phiếu kiểu thư dây chuyền (chain-letter) đang kiếm được những khoản tiền ngoạn mục. Những người chơi trò chơi này là những kẻ cả tin, những kẻ tự thôi miên mình và những kẻ thực dụng. Để tạo ra những ảo tưởng thích hợp, trò chơi này thường đòi hỏi các thủ thuật bóp méo kế toán (một doanh nhân đặc biệt cấp tiến đã nói với tôi rằng ông ta tin vào "kế toán táo bạo, giàu trí tưởng tượng"), các mánh khóe về cơ cấu vốn và việc ngụy trang bản chất thực sự của các doanh nghiệp đang hoạt động có liên quan. Sản phẩm cuối cùng thì được ưa chuộng, đáng kính và sinh lời vô cùng lớn (tôi sẽ để các triết gia tính xem những tính từ đó nên được xếp theo thứ tự nào).

Quite candidly, our own performance has been substantially improved on an indirect basis because of the fall-out from such activities. To create an ever widening circle of chain letters requires increasing amounts of corporate raw material and this has caused many intrinsically cheap (and not so cheap) stocks to come to life. When we have been the owners of such stocks, we have reaped market rewards much more promptly than might otherwise have been the case. The appetite for such companies, however, tends to substantially diminish the number of fundamentally attractive investments which remain.

Thành thật mà nói, thành tích của chính chúng ta đã được cải thiện đáng kể một cách gián tiếp nhờ những hệ quả lan tỏa từ các hoạt động như vậy. Để tạo ra một vòng thư dây chuyền ngày càng mở rộng, cần có lượng nguyên liệu thô là doanh nghiệp ngày càng lớn, và điều này đã khiến nhiều cổ phiếu rẻ xét về giá trị nội tại (và cả những cổ phiếu không rẻ đến thế) bừng tỉnh. Khi chúng ta là chủ sở hữu của những cổ phiếu như vậy, chúng ta đã gặt hái phần thưởng từ thị trường nhanh chóng hơn nhiều so với mức lẽ ra đã diễn ra nếu không có chuyện này. Tuy nhiên, sự thèm khát những công ty như vậy có xu hướng làm giảm đáng kể số lượng các khoản đầu tư hấp dẫn về mặt cơ bản còn sót lại.

I believe the odds are good that, when the stock market and business history of this period is being written, the phenomenon described in Mr. May's article will be regarded as of major importance, and perhaps characterized as a mania. You should realize, however, that his "The Emperor Has No Clothes" approach is at odds (or dismissed with a “SO What?” or an "Enjoy, Enjoy”) with the views of most investment banking houses and currently successful investment managers. We live in an investment world, populated not by those who must be logically persuaded to believe, but by the hopeful, credulous and greedy, grasping for an excuse to believe.

Tôi tin rằng nhiều khả năng là, khi lịch sử thị trường chứng khoán và kinh doanh của giai đoạn này được viết ra, hiện tượng được mô tả trong bài báo của ông May sẽ được coi là có tầm quan trọng lớn, và có lẽ sẽ được mô tả như một cơn cuồng nhiệt (mania). Tuy nhiên, các bạn nên nhận thức rằng cách tiếp cận kiểu "Hoàng đế cởi truồng" của ông ấy trái ngược (hoặc bị gạt đi bằng một câu “Thì sao nào?” hay một câu "Cứ tận hưởng đi, tận hưởng đi”) với quan điểm của hầu hết các ngân hàng đầu tư và các nhà quản lý đầu tư đang thành công hiện nay. Chúng ta sống trong một thế giới đầu tư mà cư dân không phải là những người cần được thuyết phục bằng lý lẽ để tin, mà là những kẻ đầy hy vọng, cả tin và tham lam, đang vồ lấy một cái cớ để tin.

Finally, for a magnificent account of the current financial scene, you should hurry out and get a copy of “The Money Game” by Adam Smith. It is loaded with insights and supreme wit. (Note: Despite my current “Support Your Local Postmaster” drive, I am not enclosing the book with this letter - it retails for $6.95.)

Cuối cùng, để có một bức tranh tuyệt vời về khung cảnh tài chính hiện tại, các bạn nên nhanh chóng ra ngoài và mua một cuốn “The Money Game” của Adam Smith. Cuốn sách chứa đầy những hiểu biết sâu sắc và sự dí dỏm tuyệt đỉnh. (Lưu ý: Bất chấp chiến dịch “Hãy ủng hộ Trưởng bưu cục địa phương của bạn” mà tôi đang thực hiện, tôi sẽ không gửi kèm cuốn sách với lá thư này - sách có giá bán lẻ 6,95 USD.)

Taxes

Thuế

Several unusual factors make the tax figure even more difficult than usual to estimate this year. We will undoubtedly have an above average amount of ordinary income. The picture on short term and long term capital gain is subject to unusually substantial variance. At the beginning of the year, I suggested that you use an 8% ordinary income factor (it won't come in this manner but this figure embodies an adjustment for long term capital gain) applied to your BPL capital account on an interim basis to compute quarterly tax estimates. If a figure different from 8% seems more appropriate for your September 15th quarterly estimate. I will let you know by September 5th. If no change is necessary, you will next hear from me on November 1st with the Commitment Letter for 1969.

Một số yếu tố bất thường khiến con số thuế năm nay thậm chí còn khó ước tính hơn mọi khi. Chúng ta chắc chắn sẽ có một khoản thu nhập thông thường (ordinary income) cao hơn mức trung bình. Bức tranh về lãi vốn (capital gain) ngắn hạn và dài hạn có thể biến động lớn một cách bất thường. Vào đầu năm, tôi đã gợi ý rằng các bạn sử dụng hệ số thu nhập thông thường 8% (thu nhập sẽ không phát sinh dưới dạng này, nhưng con số này đã bao gồm một điều chỉnh cho lãi vốn dài hạn), áp dụng tạm thời cho tài khoản vốn (capital account) của các bạn tại BPL, để tính các khoản thuế ước tính tạm nộp hằng quý. Nếu một con số khác 8% có vẻ phù hợp hơn cho khoản ước tính tạm nộp hằng quý ngày 15 tháng 9 của các bạn, tôi sẽ báo cho các bạn biết chậm nhất vào ngày 5 tháng 9. Nếu không cần thay đổi gì, lần tới các bạn sẽ nhận được tin của tôi vào ngày 1 tháng 11 cùng với thư cam kết (Commitment Letter) cho năm 1969.

Cordially,

Thân ái,

January 22, 1969

Ngày 22 tháng 1 năm 1969

January 22nd, 1969

Ngày 22 tháng 1 năm 1969

Our Performance in 1968

Kết quả hoạt động của chúng ta năm 1968

Everyone makes mistakes.

Ai cũng mắc sai lầm.

At the beginning of 1968, I felt prospects for BPL performance looked poorer than at any time in our history. However, due in considerable measure to one simple but sound idea whose time had come (investment ideas, like women are often more exciting than punctual), we recorded an overall gain of $40,032,691.

Vào đầu năm 1968, tôi cảm thấy triển vọng thành tích của BPL trông kém hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử của chúng ta. Tuy nhiên, phần đáng kể là nhờ một ý tưởng đơn giản nhưng đúng đắn đã đến lúc chín muồi (các ý tưởng đầu tư, cũng giống như phụ nữ, thường thú vị hơn là đúng giờ), chúng ta đã ghi nhận mức lãi tổng thể 40.032.691 USD.

Naturally, you all possess sufficient intellectual purity to dismiss the dollar result and demand an accounting of performance relative to the Dow-Jones Industrial Average. We established a new mark at plus 58.8% versus an overall plus 7.7 % for the Dow, including dividends which would have been received through ownership of the Average throughout the year. This result should be treated as a freak like picking up thirteen spades in a bridge game. You bid the slam, make it look modest, pocket the money and then get back to work on the part scores. We will also have our share of hands when we go set.

Đương nhiên, tất cả các bạn đều có đủ sự thuần khiết về trí tuệ để gạt bỏ kết quả tính bằng đô la và đòi hỏi một bản giải trình về thành tích so với chỉ số Dow-Jones Industrial Average. Chúng ta đã lập một kỷ lục mới ở mức cộng 58,8% so với mức cộng 7,7% tổng thể của chỉ số Dow, bao gồm cổ tức lẽ ra đã nhận được thông qua việc sở hữu chỉ số này trong suốt cả năm. Kết quả này cần được coi là một trường hợp dị thường, giống như việc bốc được cả mười ba lá bích trong một ván bridge. Tuyên slam, làm ra vẻ khiêm tốn, bỏ túi tiền rồi quay lại làm việc với những điểm lẻ. Chúng ta rồi cũng sẽ có phần mình trong những ván bài bị thua ván.

The following summarizes the year-by-year performance of the Dow, the Partnership before allocation (one quarter of the excess over 6%) to the General Partner and the results for limited partners:

Bảng sau đây tóm tắt thành tích từng năm của chỉ số Dow, của Quỹ hợp danh trước phần phân bổ (một phần tư phần vượt trên 6%) cho thành viên hợp danh, và kết quả của các thành viên góp vốn:

        Year                Overall Results        Partnership Results         Limited Partners’
                            From Dow (1)                   (2)                    Results (3)
        1957                    -8.4%                    10.4%                       9.3%
        1958                    38.5%                    40.9%                      32.2%
        1959                    20.0%                    25.9%                      20.9%
        1960                    -6.2%                    22.8%                      18.6%
        1961                    22.4%                    45.9%                      35.9%
        1962                    -7.6%                    13.9%                      11.9%
        1963                    20.6%                    38.7%                      30.5%
        1964                    18.7%                    27.8%                      22.3%
        1965                    14.2%                    47.2%                      36.9%
        1966                   -15.6%                    20.4%                      16.8%
        1967                    19.0%                    35.9%                      28.4%
        1968                     7.7%                    58.8%                      45.6%
        Năm                 Kết quả tổng thể       Kết quả Quỹ hợp danh        Kết quả thành viên
                            từ chỉ số Dow (1)              (2)                    góp vốn (3)
        1957                    -8,4%                    10,4%                       9,3%
        1958                    38,5%                    40,9%                      32,2%
        1959                    20,0%                    25,9%                      20,9%
        1960                    -6,2%                    22,8%                      18,6%
        1961                    22,4%                    45,9%                      35,9%
        1962                    -7,6%                    13,9%                      11,9%
        1963                    20,6%                    38,7%                      30,5%
        1964                    18,7%                    27,8%                      22,3%
        1965                    14,2%                    47,2%                      36,9%
        1966                   -15,6%                    20,4%                      16,8%
        1967                    19,0%                    35,9%                      28,4%
        1968                     7,7%                    58,8%                      45,6%

(1) Based on yearly changes in the value of the Dow plus dividends that would have been received through ownership of the Dow during that year. The table includes all complete years of Partnership activity.

(1) Dựa trên biến động hằng năm của giá trị chỉ số Dow cộng với cổ tức lẽ ra đã nhận được thông qua việc sở hữu chỉ số Dow trong năm đó. Bảng bao gồm tất cả các năm hoạt động trọn vẹn của Quỹ hợp danh.

(2) For 1957-61 consists of combined results of all predecessor limited partnerships operating throughout the entire year after all expenses, but before distributions to partners or allocations to the General Partner.

(2) Giai đoạn 1957-61 gồm kết quả gộp của tất cả các quỹ hợp danh tiền thân hoạt động trong suốt cả năm, sau mọi chi phí, nhưng trước các khoản phân phối cho các thành viên hoặc phần phân bổ cho thành viên hợp danh.

(3) For 1957-61 computed on the basis of the preceding column of Partnership results allowing for allocation to the General Partner based upon the present Partnership Agreement, but before monthly withdrawals by limited partners.

(3) Giai đoạn 1957-61 được tính trên cơ sở cột kết quả của Quỹ hợp danh ở trước, có tính đến phần phân bổ cho thành viên hợp danh dựa trên thỏa thuận hợp danh hiện hành, nhưng trước các khoản rút vốn hằng tháng của các thành viên góp vốn.

On a cumulative or compounded basis, the results are:

Tính theo cơ sở lũy kế hay tăng trưởng kép, kết quả như sau:

         Year              Overall Results From         Partnership Results        Limited Partners’
                                    Dow                                                 Results
       1957                        -8.4%                      10.4%                      9.3%
    1957 – 58                     26.9%                       55.6%                     44.5%
    1957 – 59                     52.3%                       95.9%                     74.7%
    1957 – 60                     42.9%                      140.6%                     107.2%
    1957 – 61                     74.9%                      251.0%                     181.6%
    1957 – 62                     61.6%                      299.8%                     215.1%
    1957 – 63                     95.1%                      454.5%                     311.2%
    1957 – 64                    131.3%                      608.7%                     402.9%
    1957 – 65                    164.1%                      943.2%                     588.5%
    1957 – 66                    122.9%                      1156.0%                    704.2%
    1957 – 67                    165.3%                      1606.9%                    932.6%
    1957 – 68                    185.7%                      2610.6%                   1403.5%
Annual Compounded                  9.1%                       31.6%                     25.3%
       Rate
         Năm               Kết quả tổng thể từ          Kết quả Quỹ hợp danh       Kết quả thành viên
                                    chỉ số Dow                                          góp vốn
       1957                        -8,4%                      10,4%                      9,3%
    1957 – 58                     26,9%                       55,6%                     44,5%
    1957 – 59                     52,3%                       95,9%                     74,7%
    1957 – 60                     42,9%                      140,6%                     107,2%
    1957 – 61                     74,9%                      251,0%                     181,6%
    1957 – 62                     61,6%                      299,8%                     215,1%
    1957 – 63                     95,1%                      454,5%                     311,2%
    1957 – 64                    131,3%                      608,7%                     402,9%
    1957 – 65                    164,1%                      943,2%                     588,5%
    1957 – 66                    122,9%                     1.156,0%                    704,2%
    1957 – 67                    165,3%                     1.606,9%                    932,6%
    1957 – 68                    185,7%                     2.610,6%                  1.403,5%
Tỷ suất sinh lời                   9,1%                       31,6%                     25,3%
  kép hằng năm

Investment Companies

Các công ty đầu tư

On the following page is the usual tabulation showing the results of what were the two largest mutual funds (they stood at the top in size from 1957 through 1966 - they are still number two and three) that follow a policy of being, typically, 95 -100% invested in common stocks, and the two largest diversified closed-end investment companies.

Ở trang sau là bảng tổng hợp thường lệ trình bày kết quả của hai quỹ tương hỗ (mutual funds) vốn từng là lớn nhất (chúng đứng đầu về quy mô từ năm 1957 đến năm 1966 - hiện vẫn đứng thứ hai và thứ ba) theo đuổi chính sách thường đầu tư 95-100% vào cổ phiếu phổ thông (common stocks), và hai công ty đầu tư dạng đóng (closed-end) đa dạng hóa lớn nhất.

    Year          Mass. Inv.      Investors     Lehman (2)        Tri-Cont          Dow          Limited
                  Trust (1)       Stock (1)                           (2)                        Partners
    1957           -11.4%          -12.4%          -11.4%           -2.4%          -8.4%          9.3%
    1958            42.7%           47.5%           40.8%           33.2%          38.5%          32.2%
    1959             9.0%           10.3%            8.1%            8.4%          20.0%          20.9%
    1960            -1.0%           -0.6%            2.5%            2.8%          -6.2%          18.6%
    1961            25.6%           24.9%           23.6%           22.5%          22.4%          35.9%
    1962            -9.8%          -13.4%          -14.4%          -10.0%          -7.6%          11.9%
    1963            20.0%           16.5%           23.7%           18.3%          20.6%          30.5%
    1964            15.9%           14.3%           13.6%           12.6%          18.7%          22.3%
    1965            10.2%            9.8%           19.0%           10.7%          14.2%          36.9%
    1966            -7.7%          -10.0%           -2.6%           -6.9%         -15.6%          16.8%
    1967            20.0%           22.8%           28.0%           25.4%          19.0%          28.4%
    1968            10.3%            8.1%            6.7%            6.8%           7.7%          45.6%

 Cumulative        189.3%          167.7%          225.6%         200.2%          185.7%         1403.5%
  Results
  Annual            9.3%            8.6%           10.3%            9.6%           9.1%           25.3%
Compounded
   Rate
    Năm           Mass. Inv.      Investors     Lehman (2)        Tri-Cont          Dow          Thành viên
                  Trust (1)       Stock (1)                           (2)                        góp vốn
    1957           -11,4%          -12,4%          -11,4%           -2,4%          -8,4%          9,3%
    1958            42,7%           47,5%           40,8%           33,2%          38,5%          32,2%
    1959             9,0%           10,3%            8,1%            8,4%          20,0%          20,9%
    1960            -1,0%           -0,6%            2,5%            2,8%          -6,2%          18,6%
    1961            25,6%           24,9%           23,6%           22,5%          22,4%          35,9%
    1962            -9,8%          -13,4%          -14,4%          -10,0%          -7,6%          11,9%
    1963            20,0%           16,5%           23,7%           18,3%          20,6%          30,5%
    1964            15,9%           14,3%           13,6%           12,6%          18,7%          22,3%
    1965            10,2%            9,8%           19,0%           10,7%          14,2%          36,9%
    1966            -7,7%          -10,0%           -2,6%           -6,9%         -15,6%          16,8%
    1967            20,0%           22,8%           28,0%           25,4%          19,0%          28,4%
    1968            10,3%            8,1%            6,7%            6,8%           7,7%          45,6%

 Kết quả           189,3%          167,7%          225,6%         200,2%          185,7%        1.403,5%
  lũy kế
  Tỷ suất           9,3%            8,6%           10,3%            9,6%           9,1%           25,3%
sinh lời kép
  hằng năm

(1) Computed from changes in asset value plus any distributions to holders of record during year.

(1) Được tính từ biến động giá trị tài sản cộng với mọi khoản phân phối cho cổ đông có tên trong danh sách trong năm.

(2) From 1968 Moody's Bank & Finance Manual for 1957-1967. Estimated for 1968.

(2) Lấy từ Moody's Bank & Finance Manual năm 1968 cho giai đoạn 1957-1967. Ước tính cho năm 1968.

It is interesting that after twelve years these four funds (which presently aggregate well over $5 billion and account for over 10% of the investment company industry) have averaged only a fraction of one percentage point annually better than the Dow.

Điều thú vị là sau mười hai năm, bốn quỹ này (hiện có tổng quy mô hơn hẳn 5 tỷ USD và chiếm hơn 10% ngành công ty đầu tư) tính bình quân mỗi năm chỉ tốt hơn chỉ số Dow một phần nhỏ của một điểm phần trăm.

Some of the so-called “go-go” funds have recently been re-christened “no-go” funds. For example, Gerald Tsai's Manhattan Fund, perhaps the world's best-known aggressive investment vehicle, came in at minus 6.9% for 1968. Many smaller investment entities continued to substantially outperform the general market in 1968, but in nothing like the quantities of 1966 and 1967.

Một số quỹ được gọi là quỹ “go-go” (go-go fund) gần đây đã được đặt lại tên là quỹ “no-go”. Ví dụ, Manhattan Fund của Gerald Tsai, có lẽ là phương tiện đầu tư táo bạo nổi tiếng nhất thế giới, đã về đích ở mức âm 6,9% trong năm 1968. Nhiều tổ chức đầu tư nhỏ hơn tiếp tục vượt trội đáng kể so với thị trường chung trong năm 1968, nhưng với số lượng còn kém xa năm 1966 và 1967.

The investment management business, which I used to severely chastise in this section for excessive lethargy, has now swung in many quarters to acute hypertension. One investment manager, representing an organization (with an old established name you would recognize) handling mutual funds aggregating well over $1 billion, said upon launching a new advisory service in 1968:

Ngành quản lý đầu tư, mà tôi từng chỉ trích gay gắt trong mục này vì sự uể oải thái quá, giờ đây ở nhiều nơi đã chuyển sang trạng thái tăng huyết áp cấp tính. Một nhà quản lý đầu tư, đại diện cho một tổ chức (mang một cái tên lâu đời, có uy tín mà các bạn sẽ nhận ra) đang quản lý các quỹ tương hỗ có tổng quy mô hơn hẳn 1 tỷ USD, khi ra mắt một dịch vụ tư vấn mới vào năm 1968 đã nói:

“The complexities of national and international economics make money management a full-time job. A good money manager cannot maintain a study of securities on a week-by-week or even a day-by-day basis. Securities must be studied in a minute-by-minute program.”

“Sự phức tạp của kinh tế quốc gia và quốc tế khiến việc quản lý tiền trở thành một công việc toàn thời gian. Một nhà quản lý tiền giỏi không thể duy trì việc nghiên cứu chứng khoán theo từng tuần hay thậm chí theo từng ngày. Chứng khoán phải được nghiên cứu theo một chương trình từng phút một.”

Wow!

Chà!

This sort of stuff makes me feel guilty when I go out for a Pepsi. When practiced by large and increasing numbers of highly motivated people with huge amounts of money on a limited quantity of suitable securities, the result becomes highly unpredictable. In some ways it is fascinating to watch and in other ways it is appalling.

Những thứ kiểu này khiến tôi cảm thấy có lỗi mỗi khi ra ngoài uống Pepsi. Khi một số lượng lớn và ngày càng tăng những người có động lực rất cao, với những khoản tiền khổng lồ, cùng thực hành điều này trên một lượng có hạn các chứng khoán phù hợp, kết quả trở nên cực kỳ khó lường. Ở một số khía cạnh, điều này thật hấp dẫn để quan sát, còn ở những khía cạnh khác thì thật đáng kinh hãi.

Analysis of 1968 Results

Phân tích kết quả năm 1968

All four main categories of our investment operation worked out well in 1968. Our total overall gain of $40,032,691 was divided as follows:

Cả bốn nhóm chính trong hoạt động đầu tư của chúng ta đều mang lại kết quả tốt trong năm 1968. Tổng mức lãi tổng thể 40.032.691 USD của chúng ta được phân chia như sau:

Category                                    Average Investment                        Overall Gain
Controls                                           $24,996,998                          $5,886,109
Generals – Private Owner                           $16,363,100                         $21,994,736
Generals – Relatively                                $8,766,878                         $4,271,825
Undervalued
Workouts                                             $18,980,602                         $7,317,128
Miscellaneous, primarily US                          $12,744,973                          $839,496
Treasury Bills
Total Income                                                                            $40,309,294
Less – General Expense,                                                                   $276,603
including Interest
Overall Gain                                                                            $40,032,691
Nhóm                                        Khoản đầu tư bình quân                    Mức lãi tổng thể
Kiểm soát                                          $24.996.998                          $5.886.109
Thông thường – Góc nhìn chủ sở hữu tư nhân         $16.363.100                         $21.994.736
Thông thường – Bị định giá                           $8.766.878                         $4.271.825
thấp tương đối
Theo sự kiện                                         $18.980.602                         $7.317.128
Khác, chủ yếu là tín phiếu                           $12.744.973                          $839.496
Kho bạc Mỹ
Tổng thu nhập                                                                           $40.309.294
Trừ – Chi phí chung,                                                                      $276.603
bao gồm tiền lãi vay
Mức lãi tổng thể                                                                        $40.032.691

A few caveats, as mentioned in my letter two years ago, are again in order (non-doctoral candidates may proceed to next section):

Một vài lưu ý, như đã nêu trong lá thư của tôi hai năm trước, một lần nữa cần được nhắc lại (những ai không phải là nghiên cứu sinh tiến sĩ có thể chuyển sang mục tiếp theo):

  1. An explanation of the various categories listed above was made in the January 18, 1965 letter. If your memory needs refreshing and your favorite newsstand does not have the pocketbook edition. We'll be glad to give you a copy.
  1. Phần giải thích về các nhóm khác nhau liệt kê ở trên đã được trình bày trong lá thư ngày 18 tháng 1 năm 1965. Nếu trí nhớ của các bạn cần được làm mới và sạp báo ưa thích của các bạn không có ấn bản bỏ túi, chúng tôi sẽ vui lòng gửi các bạn một bản.
  1. The classifications are not iron clad. Nothing is changed retroactively, but the initial decision as to category is sometimes arbitrary. Sometimes later classification proves difficult; e.g. a workout that falls through but that I continue to hold for reasons unrelated or only partially related to the original decision (like stubbornness).
  1. Việc phân loại không phải là bất di bất dịch. Không có gì bị thay đổi hồi tố, nhưng quyết định ban đầu về việc xếp nhóm đôi khi mang tính tùy ý. Đôi khi việc phân loại về sau tỏ ra khó khăn; ví dụ, một khoản đầu tư theo sự kiện (workout) bị đổ bể nhưng tôi vẫn tiếp tục nắm giữ vì những lý do không liên quan hoặc chỉ liên quan một phần đến quyết định ban đầu (như sự bướng bỉnh).
  1. Percentage returns calculated on the average investment base by category would be significantly understated relative to Partnership percentage returns which are calculated on a beginning investment base. In the foregoing figures, a security purchased by us at 100 on January 1 which appreciated at an even rate to 200 on December 31 would have an average investment of 150 producing a 66-2/3% result contrasted to a 100% result by the customary approach. In other words, the foregoing figures use a monthly average of market values in calculating the average investment.
  1. Tỷ suất sinh lời phần trăm tính trên cơ sở khoản đầu tư bình quân theo từng nhóm sẽ thấp hơn thực tế đáng kể khi so với tỷ suất sinh lời phần trăm của Quỹ hợp danh, vốn được tính trên cơ sở khoản đầu tư đầu kỳ. Trong các số liệu nêu trên, một chứng khoán mà chúng ta mua ở giá 100 vào ngày 1 tháng 1 và tăng giá đều đặn lên 200 vào ngày 31 tháng 12 sẽ có khoản đầu tư bình quân là 150, tạo ra kết quả 66-2/3%, so với kết quả 100% theo cách tính thông thường. Nói cách khác, các số liệu nêu trên sử dụng bình quân hằng tháng của giá trị thị trường để tính khoản đầu tư bình quân.
  1. All results are based on a 100% ownership, non-leverage basis. Interest and other general expenses are deducted from total performance and not segregated by category. Expenses directly related to specific investment operations, such as dividends paid on short stock, are deducted by category. When securities are borrowed directly and sold short, the net investment (longs minus shorts) is shown for the applicable category's average investment.
  1. Mọi kết quả đều được tính trên cơ sở sở hữu 100%, không dùng đòn bẩy (leverage). Tiền lãi vay và các chi phí chung khác được trừ khỏi tổng thành tích và không phân tách theo nhóm. Các chi phí liên quan trực tiếp đến những nghiệp vụ đầu tư cụ thể, chẳng hạn cổ tức phải trả cho cổ phiếu bán khống, được trừ theo nhóm. Khi chứng khoán được vay trực tiếp và bán khống (sold short), khoản đầu tư ròng (vị thế mua trừ vị thế bán khống) được thể hiện trong khoản đầu tư bình quân của nhóm tương ứng.
  1. The foregoing table has only limited use. The results applicable to each category are dominated by one or two investments. They do not represent a collection of great quantities of stable data (mortality rates of all American males or something of the sort) from which conclusions can be drawn and projections made. Instead, they represent infrequent, non-homogeneous phenomena leading to very tentative suggestions regarding various courses of action and are so used by us.
  1. Bảng nêu trên chỉ có công dụng hạn chế. Kết quả ứng với mỗi nhóm do một hoặc hai khoản đầu tư chi phối. Các kết quả này không đại diện cho một tập hợp lượng lớn dữ liệu ổn định (tỷ lệ tử vong của toàn bộ nam giới Mỹ hoặc thứ gì đó tương tự) mà từ đó có thể rút ra kết luận và đưa ra các dự phóng. Thay vào đó, chúng đại diện cho những hiện tượng không thường xuyên, không đồng nhất, dẫn tới những gợi ý rất dè dặt về các hướng hành động khác nhau, và chúng tôi sử dụng chúng đúng như vậy.
  1. Finally, these calculations are not made with the same loving care we apply to counting the money and are subject to possible clerical or mathematical error since they are not entirely se1f-checking.
  1. Cuối cùng, những phép tính này không được thực hiện với sự chăm chút yêu thương như chúng tôi dành cho việc đếm tiền, và có thể mắc lỗi văn thư hoặc lỗi tính toán vì chúng không hoàn toàn tự kiểm tra được.

Controls

Khoản đầu tư kiểm soát (Controls)

Overall, the controlled companies turned in a decent performance during 1968. Diversified Retailing Company Inc. (80% owned) and Berkshire Hathaway Inc. (70% owned) had combined after-tax earnings of over $5 million.

Nhìn chung, các công ty do chúng ta kiểm soát đã đạt thành tích khá ổn trong năm 1968. Diversified Retailing Company Inc. (chúng ta sở hữu 80%) và Berkshire Hathaway Inc. (chúng ta sở hữu 70%) có tổng lợi nhuận sau thuế hơn 5 triệu USD.

Particularly outstanding performances were turned in by Associated Cotton Shops, a subsidiary of DRC run by Ben Rosner, and National Indemnity Company, a subsidiary of B-H run by Jack Ringwalt. Both of these companies earned about 20% on capital employed in their businesses. Among Fortune's “500” (the largest manufacturing entities in the country, starting with General Motors), only 37 companies achieved this figure in 1967, and our boys outshone such mildly better-known (but not better appreciated) companies as IBM, General Electric, General Motors, Procter & Gamble, DuPont, Control Data, Hewlett-Packard, etc...

Thành tích đặc biệt xuất sắc thuộc về Associated Cotton Shops, một công ty con của DRC do Ben Rosner điều hành, và National Indemnity Company, một công ty con của B-H do Jack Ringwalt điều hành. Cả hai công ty này đều kiếm được khoảng 20% trên vốn sử dụng (capital employed) trong hoạt động kinh doanh của mình. Trong danh sách “500” của Fortune (những doanh nghiệp sản xuất lớn nhất nước Mỹ, bắt đầu từ General Motors), chỉ có 37 công ty đạt được con số này trong năm 1967, và những chàng trai của chúng ta đã làm lu mờ những công ty có phần nổi tiếng hơn đôi chút (nhưng không được đánh giá cao hơn) như IBM, General Electric, General Motors, Procter & Gamble, DuPont, Control Data, Hewlett-Packard, v.v...

I still sometimes get comments from partners like: "Say, Berkshire is up four points - that's great!" or "What's happening to us, Berkshire was down three last week?" Market price is irrelevant to us in the valuation of our controlling interests. We valued B-H at 25 at yearend 1967 when the market was about 20 and 31 at yearend 1968 when the market was about 37. We would have done the same thing if the markets had been 15 and 50 respectively. ("Price is what you pay. value is what you get"). We will prosper or suffer in controlled investments in relation to the operating performances of our businesses - we will not attempt to profit by playing various games in the securities markets.

Đôi khi tôi vẫn nhận được những lời bình luận từ các thành viên kiểu như: "Này, Berkshire tăng bốn điểm - tuyệt quá!" hoặc "Chuyện gì đang xảy ra với chúng ta vậy, tuần trước Berkshire giảm ba điểm?" Giá thị trường không liên quan gì đến chúng ta trong việc định giá cổ phần chi phối (controlling interests) của mình. Chúng tôi đã định giá B-H ở mức 25 vào cuối năm 1967 khi giá thị trường vào khoảng 20, và ở mức 31 vào cuối năm 1968 khi giá thị trường vào khoảng 37. Chúng tôi vẫn sẽ làm đúng như vậy nếu giá thị trường lần lượt là 15 và 50. ("Giá cả là thứ bạn phải trả, giá trị là thứ bạn nhận được"). Chúng ta sẽ thịnh vượng hay chịu thiệt trong các khoản đầu tư do chúng ta kiểm soát tương ứng với kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp của chúng ta - chúng ta sẽ không cố kiếm lời bằng cách chơi những trò chơi khác nhau trên các thị trường chứng khoán.

Generals -Private Owner

Khoản đầu tư thông thường (Generals) - Góc nhìn chủ sở hữu tư nhân

Over the years this has been our best category, measured by average return, and has also maintained by far the best percentage of profitable transactions. This approach was the way I was taught the business, and it formerly accounted for a large proportion of all our investment ideas. Our total individual profits in this category during the twelve year BPL history are probably fifty times or more our total losses. The cash register really rang on one simple industry idea (implemented in several ways) in this area in 1968. We even received a substantial fee (included in Other Income in the audit) for some work in this field.

Qua nhiều năm, đây là nhóm tốt nhất của chúng ta, nếu đo bằng tỷ suất sinh lời bình quân, và cũng duy trì tỷ lệ phần trăm giao dịch có lãi tốt nhất, vượt xa các nhóm khác. Cách tiếp cận này chính là cách tôi đã được dạy về nghề này, và trước đây nó chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ các ý tưởng đầu tư của chúng ta. Tổng các khoản lãi riêng lẻ của chúng ta trong nhóm này suốt lịch sử mười hai năm của BPL có lẽ gấp năm mươi lần trở lên so với tổng các khoản lỗ của chúng ta. Năm 1968, máy tính tiền đã thực sự reo vang nhờ một ý tưởng đơn giản về một ngành (được triển khai theo nhiều cách) trong mảng này. Chúng ta thậm chí còn nhận được một khoản phí đáng kể (được đưa vào mục Thu nhập khác trong báo cáo kiểm toán) cho một số công việc trong lĩnh vực này.

Our total investment in this category (which is where I feel by far the greatest certainty regarding consistently decent results) is presently under $2 million and I have nothing at all in the hopper to bolster this. What came through like the Johnstown flood in 1968 looks more like a leaky faucet in Altoona for 1969.

Tổng khoản đầu tư của chúng ta trong nhóm này (là nhóm mà tôi cảm thấy chắc chắn hơn hẳn mọi nhóm khác về việc đạt được kết quả khá một cách đều đặn) hiện ở mức dưới 2 triệu USD và tôi hoàn toàn không có gì đang chờ sẵn trong phễu để bồi đắp thêm cho nó. Những gì ào tới như trận lũ Johnstown trong năm 1968 thì sang năm 1969 trông giống một vòi nước rỉ ở Altoona hơn.

Generals - Relatively Undervalued

Khoản đầu tư thông thường - Bị định giá thấp tương đối

This category produced about two-thirds of the overall gain in 1966 and 1967 combined. I mentioned last year that the great two-year performance here had largely come from one idea. I also said, "We have nothing in this group remotely approaching the size or potential which formerly existed in this investment.” It gives me great pleasure to announce that this statement was absolutely correct. It gives me somewhat less pleasure to announce that it must be repeated this year.

Nhóm này đã tạo ra khoảng hai phần ba mức lãi tổng thể của năm 1966 và năm 1967 cộng lại. Năm ngoái tôi đã đề cập rằng thành tích tuyệt vời trong hai năm ở nhóm này phần lớn đến từ một ý tưởng. Tôi cũng đã nói, "Chúng ta không có khoản nào trong nhóm này dù chỉ gần đạt tới quy mô hay tiềm năng từng có ở khoản đầu tư này.” Tôi rất vui mừng được thông báo rằng nhận định đó hoàn toàn chính xác. Tôi kém vui hơn đôi chút khi phải thông báo rằng nhận định đó phải được nhắc lại trong năm nay.

Workouts

Khoản đầu tư theo sự kiện

This category, which was a disaster in 1967, did well during 1968. Our relatively heavy concentration in just a few situations per year (some of the large arbitrage houses may become involved in fifty or more workouts per annum) gives more variation in yearly results than an across-the-board approach. I feel the average profitability will be as good with our policy and 1968 makes me feel better about that conclusion than 1967 did.

Nhóm này, vốn là một thảm họa trong năm 1967, đã đạt kết quả tốt trong năm 1968. Việc chúng ta tập trung tương đối nặng vào chỉ một vài tình huống mỗi năm (một số công ty kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) lớn có thể tham gia vào năm mươi khoản đầu tư theo sự kiện trở lên mỗi năm) tạo ra biến động trong kết quả hằng năm lớn hơn so với một cách tiếp cận dàn trải. Tôi cảm thấy khả năng sinh lời bình quân với chính sách của chúng ta sẽ tốt không kém, và năm 1968 khiến tôi thấy yên tâm hơn về kết luận đó so với năm 1967.

It should again be stated that our results in the Workout area (as well as in other categories) are somewhat understated compared to the more common method of determining results computed on an initial base figure and utilizing borrowed money (which is often a sensible part of the Workout business).

Cần nói lại một lần nữa rằng kết quả của chúng ta trong mảng theo sự kiện (cũng như ở các nhóm khác) bị thể hiện thấp hơn thực tế đôi chút so với phương pháp xác định kết quả phổ biến hơn, là phương pháp tính trên một con số cơ sở ban đầu và có sử dụng tiền vay (điều này thường là một phần hợp lý của hoạt động kinh doanh theo sự kiện).

I can't emphasize too strongly that the quality and quantity of ideas is presently at an all time low - the product of the factors mentioned in my October 9th, 1967 letter, which have largely been intensified since then.

Tôi không thể nhấn mạnh cho đủ rằng chất lượng và số lượng ý tưởng hiện đang ở mức thấp nhất từ trước đến nay - hệ quả của các yếu tố đã được đề cập trong lá thư ngày 9 tháng 10 năm 1967 của tôi, những yếu tố mà phần lớn đã trở nên gay gắt hơn kể từ đó.

Sometimes I feel we should have a plaque in our office like the one at the headquarters of Texas Instruments in Dallas which reads: “We don't believe in miracles, we rely on them.” It is possible for an old, overweight ball player, whose legs and batting eye are gone, to tag a fast ball on the nose for a pinch-hit home run, but you don't change your line-up because of it.

Đôi khi tôi cảm thấy chúng ta nên có một tấm biển trong văn phòng giống như tấm biển tại trụ sở của Texas Instruments ở Dallas, trên đó ghi: “Chúng tôi không tin vào phép màu, chúng tôi dựa vào chúng.” Một cầu thủ bóng chày già, thừa cân, đôi chân và con mắt đánh bóng đã không còn, vẫn có thể đánh trúng chính diện một cú bóng nhanh để ghi một cú home run khi vào đánh thay (pinch-hit), nhưng người ta không thay đổi đội hình ra sân chỉ vì điều đó.

We have a number of important negatives operating on our future and, while they shouldn't add up to futility, they certainly don't add up to more than an average of quite moderate profitability.

Chúng ta có một số yếu tố tiêu cực quan trọng đang tác động đến tương lai của mình và, dù chúng khó có thể cộng lại thành sự vô vọng, chắc chắn chúng cũng không cộng lại thành gì hơn một mức khả năng sinh lời bình quân rất vừa phải.

Memorabilia

Hoài niệm

As one of my older friends says, “Nostalgia just isn't what it used to be.” Let's take a stab at it, anyway.

Như một người bạn lớn tuổi của tôi vẫn nói, “Hoài niệm giờ không còn được như xưa nữa.” Dù sao thì chúng ta cứ thử một phen xem.

Buffett Associates, Ltd., the initial predecessor partnership, was formed May 5, 1956 with seven limited partners (four family, three close friends), contributing $105,000, and the General Partner putting his money where his mouth was by investing $100. Two additional single-family limited partnerships were formed during 1956, so that on January 1, 1957 combined net assets were $303,726. During 1957, we had a gain of $31,615.97, leading to the 10.4% figure shown on page one. During 1968 I would guess that the New York Stock Exchange was open around 1,200 hours, giving us a gain of about $33,000 per hour (sort of makes you wish they had stayed with the 5-1/2 hour, 5 day week, doesn't it), or roughly the same as the full year gain in 1957.

Buffett Associates, Ltd., quỹ hợp danh tiền thân đầu tiên, được thành lập ngày 5 tháng 5 năm 1956 với bảy thành viên góp vốn (bốn người trong gia đình, ba người bạn thân), góp 105.000 USD, còn Thành viên hợp danh thì dám bỏ tiền ra để chứng minh cho lời nói của mình bằng cách đầu tư 100 USD. Hai quỹ hợp danh hữu hạn (limited partnerships) khác, mỗi quỹ dành cho một gia đình, được thành lập trong năm 1956, nhờ vậy vào ngày 1 tháng 1 năm 1957, tài sản ròng gộp lại là 303.726 USD. Trong năm 1957, chúng ta có mức lãi 31.615,97 USD, tạo nên con số 10,4% được nêu ở trang một. Trong năm 1968, tôi đoán Sở Giao dịch Chứng khoán New York (New York Stock Exchange) đã mở cửa khoảng 1.200 giờ, mang lại cho chúng ta mức lãi khoảng 33.000 USD mỗi giờ (điều này phần nào khiến các bạn ước giá như họ vẫn giữ tuần làm việc 5 ngày, mỗi ngày 5-1/2 giờ, phải không?), tức là gần bằng mức lãi của cả năm 1957.

On January 1, 1962 we consolidated the predecessor limited partnerships moved out of the bedroom and hired our first full-time employees. Net assets at that time were $7,178,500. From that point to our present net assets of $104,429,431 we have added one person to the payroll. Since 1963 (Assets $9,405,400) rent has gone from $3,947 to $5,823 (Ben Rosner would never have forgiven me if I had signed a percentage lease) travel from $3,206 to $3,603, and dues and subscriptions from $900 to $994. If one of Parkinson's Laws is operating, at least the situation hasn't gotten completely out of control.

Ngày 1 tháng 1 năm 1962, chúng ta hợp nhất các quỹ hợp danh tiền thân, dọn ra khỏi phòng ngủ và thuê những nhân viên toàn thời gian đầu tiên. Tài sản ròng vào thời điểm đó là 7.178.500 USD. Từ thời điểm đó đến mức tài sản ròng hiện nay là 104.429.431 USD, chúng ta đã bổ sung thêm một người vào bảng lương. Kể từ năm 1963 (Tài sản 9.405.400 USD), tiền thuê đã tăng từ 3.947 USD lên 5.823 USD (Ben Rosner sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi nếu tôi ký một hợp đồng thuê theo tỷ lệ doanh thu (percentage lease)), chi phí đi lại từ 3.206 USD lên 3.603 USD, và phí hội viên cùng phí đặt mua ấn phẩm từ 900 USD lên 994 USD. Nếu một trong các Định luật Parkinson (Parkinson's Laws) đang vận hành, thì ít nhất tình hình cũng chưa hoàn toàn vượt khỏi tầm kiểm soát.

In making our retrospective survey of our financial assets, our conclusion need not parallel that of Gypsy Rose Lee who opined, when reviewing her physical assets on her fifty-fifth birthday: “I have everything I had twenty years ago - it's just that it's all lower.”

Khi thực hiện cuộc rà soát nhìn lại đối với tài sản tài chính của chúng ta, kết luận của chúng ta không nhất thiết phải giống với kết luận của Gypsy Rose Lee, người đã nhận xét, khi xem xét lại tài sản hình thể của mình vào sinh nhật lần thứ năm mươi lăm: “Tôi có mọi thứ tôi đã có hai mươi năm trước - chỉ có điều là tất cả đều thấp hơn.”

Miscellaneous

Các vấn đề khác

Although the investment environment is difficult, the office environment is superb. With Donna, Gladys, Bill and John, we have an organization that functions speedily, efficiently and pleasantly. They are the best.

Mặc dù môi trường đầu tư khó khăn, môi trường văn phòng thì tuyệt vời. Với Donna, Gladys, Bill và John, chúng ta có một tổ chức vận hành nhanh chóng, hiệu quả và dễ chịu. Họ là những người giỏi nhất.

The office group, along with spouses (one apiece - I still haven't figured out how I should handle that plural) and children have over $27 million invested in BPL on January 1, 1969. Assorted sizes and shapes of aunts, uncles, parents, in-laws, brothers, sisters and cousins make the BPL membership list read like “Our Crowd” - which, so far as I am concerned, is exactly what it is.

Nhóm văn phòng, cùng với những người bạn đời (mỗi người một - tôi vẫn chưa nghĩ ra mình nên xử lý cái số nhiều đó thế nào) và con cái, có hơn 27 triệu USD đầu tư vào BPL vào ngày 1 tháng 1 năm 1969. Đủ mọi kích cỡ và dáng vẻ cô dì chú bác, cha mẹ, họ hàng bên vợ bên chồng, anh chị em ruột và anh chị em họ khiến danh sách thành viên BPL đọc lên giống như “Our Crowd” - mà, theo như tôi thấy, thì đúng là như vậy.

Within a few days, you will receive:

Trong vòng vài ngày tới, các bạn sẽ nhận được:

  1. A tax letter giving you all BPL information needed for your 1968 federal income tax return. This letter is the only item that counts for tax purposes.
  1. Một thư về thuế cung cấp cho các bạn mọi thông tin về BPL cần thiết cho tờ khai thuế thu nhập liên bang năm 1968 của các bạn. Thư này là tài liệu duy nhất có giá trị cho mục đích thuế.
  1. An audit from Peat Marwick. Mitchell & Co. (they have again done an excellent job) for 1968, setting forth the operations and financial position of BPL, as well as your own capital account.
  1. Báo cáo kiểm toán năm 1968 của Peat, Marwick, Mitchell & Co. (họ một lần nữa đã làm việc xuất sắc), trình bày hoạt động và tình hình tài chính của BPL cũng như tài khoản vốn của riêng các bạn.
  1. A letter signed by me setting forth the status of your BPL interest on January 1, 1969. This is identical with the figures developed in the audit.
  1. Một lá thư do tôi ký, nêu tình trạng phần vốn góp của các bạn tại BPL vào ngày 1 tháng 1 năm 1969. Thư này trùng khớp với các số liệu được xác định trong báo cáo kiểm toán.

Let me know if anything in this letter or that occurs during the year needs clarifying. My next letter will be about July 10th, summarizing the first half of this year.

Hãy cho tôi biết nếu có điều gì trong lá thư này hoặc điều gì xảy ra trong năm cần được làm rõ. Lá thư tiếp theo của tôi sẽ được gửi vào khoảng ngày 10 tháng 7, tổng kết nửa đầu năm nay.

Cordially,

Thân ái,

Nhận bài mới qua email

Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.

Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.

Gymnopédie No. 1Erik Satie