Thư Buffett Partnership năm 1961
Quỹ lãi 45,9% so với Dow 22,2%, Buffett bắt đầu viết thêm thư giữa năm từ 22/07/1961 và nắm quyền kiểm soát Dempster Mill (70% cổ phần) tháng 8/1961.
Dịch từ bản gốc tại archive.org, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: bản sưu tập Internet Archive (archive.org), không phải trang chính chủ.
Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.
July 22, 1961
Ngày 22 tháng 7 năm 1961
July, 1961
Tháng 7 năm 1961
TO MY PARTNERS:
GỬI CÁC THÀNH VIÊN:
In the past, partners have commented that a once-a-year letter was “a long time between drinks,” and that a semi-annual letter would be a good idea. It really shouldn’t be too difficult to find something to say twice a year; at least it isn’t this year. Hence, this letter which will be continued in future years.
Trước đây, các thành viên từng nhận xét rằng một lá thư mỗi năm một lần thì là “một quãng chờ quá lâu giữa hai chầu rượu,” và rằng một lá thư nửa năm một lần sẽ là một ý hay. Thực ra, việc tìm ra điều gì đó để nói hai lần mỗi năm chắc cũng không đến nỗi quá khó; ít nhất thì năm nay là không khó. Vì vậy mới có lá thư này, và loại thư này sẽ được tiếp tục trong những năm tới.
During the first half of 1961, the overall gain of the Dow-Jones Industrial Average was about 13%, including dividends. Although this is the type of period when we should have the most difficulty in exceeding this standard, all partnerships that operated throughout the six months did moderately better then the Average. Partnerships formed during 1961 either equaled or exceeded results of the Average from the time of formation, depending primarily on how long they were in operation.
Trong nửa đầu năm 1961, mức lãi tổng thể của chỉ số Dow-Jones Industrial Average là khoảng 13%, tính cả cổ tức. Mặc dù đây là loại giai đoạn mà chúng ta dự kiến sẽ gặp khó khăn nhất trong việc vượt qua chuẩn mực này, tất cả các quỹ hợp danh hoạt động suốt sáu tháng đều đạt kết quả tốt hơn chỉ số bình quân ở mức vừa phải. Các quỹ hợp danh thành lập trong năm 1961 hoặc đạt bằng, hoặc vượt kết quả của chỉ số bình quân tính từ thời điểm thành lập, tùy thuộc chủ yếu vào việc các quỹ đó đã hoạt động được bao lâu.
Let me, however, emphasize two points. First, one year is far too short a period to form any kind of an opinion as to investment performance, and measurements based upon six months become even more unreliable. One factor that has caused some reluctance on my part to write semi-annual letters is the fear that partners may begin to think in terms of short-term performance which can be most misleading. My own thinking is much more geared to five year performance, preferably with tests of relative results in both strong and weak markets.
Tuy nhiên, tôi xin nhấn mạnh hai điểm. Thứ nhất, một năm là khoảng thời gian thực sự quá ngắn để hình thành bất kỳ nhận định nào về kết quả đầu tư, và những phép đo dựa trên sáu tháng lại càng kém tin cậy hơn nữa. Một yếu tố khiến tôi có phần ngần ngại viết thư nửa năm một lần là nỗi lo rằng các thành viên có thể bắt đầu suy nghĩ theo kết quả ngắn hạn, điều có thể gây hiểu lầm rất lớn. Cách nghĩ của riêng tôi hướng nhiều hơn hẳn vào kết quả năm năm, tốt nhất là kèm theo các phép thử về kết quả tương đối trong cả thị trường mạnh lẫn thị trường yếu.
The second point I want everyone to understand is that if we continue in a market which advances at the pace of the first half of 1961, not only do I doubt that we will continue to exceed the results of the DJIA, but it is very likely that our performance will fall behind the Average.
Điểm thứ hai tôi muốn mọi người hiểu rõ là nếu chúng ta tiếp tục ở trong một thị trường tăng với tốc độ như nửa đầu năm 1961, thì không những tôi nghi ngờ việc chúng ta sẽ tiếp tục vượt kết quả của chỉ số Dow (DJIA), mà rất có khả năng kết quả của chúng ta sẽ tụt lại phía sau chỉ số bình quân.
Our holdings, which I always believe to be on the conservative side compared to general portfolios, tend to grow more conservative as the general market level rises. At all times, I attempt to have a portion of our portfolio in securities as least partially insulated from the behavior of the market, and this portion should increase as the market rises. However appetizing results for even the amateur cook (and perhaps particularly the amateur), we find that more of our portfolio is not on the stove.
Các khoản nắm giữ của chúng ta, mà tôi luôn tin là nghiêng về phía thận trọng so với các danh mục đầu tư nói chung, có xu hướng trở nên thận trọng hơn khi mặt bằng của thị trường chung tăng lên. Vào mọi thời điểm, tôi cố gắng duy trì một phần danh mục của chúng ta ở những chứng khoán ít nhất được cách ly một phần khỏi diễn biến của thị trường, và phần này cần tăng lên khi thị trường đi lên. Dù kết quả có hấp dẫn đến đâu ngay cả đối với người đầu bếp nghiệp dư (và có lẽ đặc biệt là người nghiệp dư), chúng ta nhận thấy rằng một phần lớn hơn trong danh mục của chúng ta không nằm trên bếp.
We have also begun open market acquisition of a potentially major commitment which I, of course, hope does nothing marketwise for at least a year. Such a commitment may be a deterrent to short range performance, but it gives strong promise of superior results over a several year period combined with substantial defensive characteristics.
Chúng ta cũng đã bắt đầu gom mua trên thị trường một khoản đầu tư có tiềm năng trở thành khoản đầu tư lớn, mà dĩ nhiên tôi hy vọng sẽ không có biến động gì về giá trên thị trường trong ít nhất một năm. Một khoản đầu tư như vậy có thể là một trở lực đối với kết quả ngắn hạn, nhưng lại hứa hẹn mạnh mẽ những kết quả vượt trội trong khoảng thời gian vài năm, kết hợp với những đặc tính phòng thủ đáng kể.
Progress has been made toward combining all partners at yearend. I have talked with all partners joining during this past year or so about this goal, and have also gone over the plans with representative partners of all earlier partnerships
Đã có tiến triển hướng tới việc hợp nhất tất cả các thành viên vào cuối năm. Tôi đã trao đổi về mục tiêu này với tất cả các thành viên gia nhập trong khoảng một năm vừa qua, và cũng đã rà soát các kế hoạch cùng những thành viên đại diện của tất cả các quỹ hợp danh trước đó.
Some of the provisions will be:
Một số điều khoản sẽ là:
(A) A merger of all partnerships, based on market value at yearend, with provisions for proper allocation among partners of future tax liability due to unrealized gains at yearend. The merger itself will be tax-free, and will result in no acceleration of realization of profits;
(A) Sáp nhập tất cả các quỹ hợp danh, dựa trên giá trị thị trường vào cuối năm, kèm theo các điều khoản phân bổ hợp lý giữa các thành viên đối với nghĩa vụ thuế trong tương lai phát sinh từ lãi chưa thực hiện (unrealized gains) tại thời điểm cuối năm. Bản thân việc sáp nhập sẽ được miễn thuế, và sẽ không dẫn đến việc đẩy nhanh quá trình thực hiện lợi nhuận;
(B) A division of profits between the limited partners and general partner, with the first 6% per year to partners based upon beginning capital at market, and any excess divided one-fourth to the general partner and three-fourths to all partners proportional to their capital. Any deficiencies in earnings below the 6% would be carried forward against future earnings, but would not be carried back. Presently, there are three profit arrangements which have been optional to incoming partners:
(B) Phân chia lợi nhuận giữa các thành viên góp vốn (limited partners) và thành viên hợp danh (general partner), theo đó 6% đầu tiên mỗi năm thuộc về các thành viên, tính trên vốn đầu kỳ theo giá thị trường, và mọi phần vượt trên mức đó được chia một phần tư cho thành viên hợp danh và ba phần tư cho tất cả các thành viên theo tỷ lệ vốn của họ. Mọi phần lợi nhuận thiếu hụt dưới mức 6% sẽ được chuyển sang các năm sau (carried forward) để bù trừ với lợi nhuận tương lai, nhưng sẽ không được chuyển ngược về (carried back) các năm trước. Hiện nay, có ba phương án chia lợi nhuận mà các thành viên mới gia nhập được tùy chọn:
Interest Provision Excess to Gen. Partner Excess to Ltd. Partners
(1) 6% 1/3 2/3
(2) 4% 1/4 3/4
(3) None 1/6 5/6
Lãi ưu tiên Phần vượt cho TV hợp danh Phần vượt cho TV góp vốn
(1) 6% 1/3 2/3
(2) 4% 1/4 3/4
(3) Không 1/6 5/6
In the event of profits, the new division will obviously have to be better for limited partners than the first two arrangements. Regarding the third, the new arrangement will be superior up to 18% per year; but above this rate the limited partners would do better under the present agreement. About 80% of total partnership assets have selected the first two arrangements, and I am hopeful, should we average better than 18% yearly, partners presently under the third arrangement will not feel short-changed under the new agreement;
Trong trường hợp có lãi, cách phân chia mới hiển nhiên sẽ phải có lợi hơn cho các thành viên góp vốn so với hai phương án đầu. Đối với phương án thứ ba, phương án mới sẽ có lợi hơn cho tới mức 18% mỗi năm; nhưng trên mức này thì các thành viên góp vốn sẽ được lợi hơn theo thỏa thuận hiện tại. Khoảng 80% tổng tài sản của các quỹ hợp danh đã chọn hai phương án đầu, và tôi hy vọng rằng, nếu chúng ta đạt mức bình quân cao hơn 18% mỗi năm, các thành viên hiện đang theo phương án thứ ba sẽ không cảm thấy bị thiệt thòi theo thỏa thuận mới;
(C) In the event of losses, there will be no carry back against amounts previously credited to me as general partner. Although there will be a carry-forward against future excess earnings. However, my wife and I will have the largest single investment in the new partnership, probably about one-sixth of total partnership assets, and thereby a greater dollar stake in losses than any other partner of family group, I am inserting a provision in the partnership agreement which will prohibit the purchase by me or my family of any marketable securities. In other words, the new partnership will represent my entire investment operation in marketable securities, so that my results will have to be directly proportional to yours, subject to the advantage I obtain if we do better than 6%;
(C) Trong trường hợp thua lỗ, sẽ không có việc chuyển ngược về (carry back) để bù trừ với những khoản đã được ghi có cho tôi trước đây với tư cách thành viên hợp danh. Dù vậy, sẽ có việc chuyển sang các năm sau để bù trừ với phần lợi nhuận vượt mức trong tương lai. Tuy nhiên, vợ tôi và tôi sẽ có khoản đầu tư đơn lẻ lớn nhất trong quỹ hợp danh mới, có lẽ vào khoảng một phần sáu tổng tài sản của quỹ hợp danh, và do đó có số tiền chịu rủi ro thua lỗ lớn hơn bất kỳ thành viên hay nhóm gia đình nào khác; tôi đang đưa vào thỏa thuận hợp danh (partnership agreement) một điều khoản cấm tôi hoặc gia đình tôi mua bất kỳ chứng khoán khả mại (marketable securities) nào. Nói cách khác, quỹ hợp danh mới sẽ là toàn bộ hoạt động đầu tư vào chứng khoán khả mại của tôi, nhờ đó kết quả của tôi sẽ phải tỷ lệ thuận trực tiếp với kết quả của các bạn, chỉ trừ phần lợi thế tôi có được nếu chúng ta đạt kết quả tốt hơn 6%;
(D) A provision for monthly payments at the rate of 6% yearly, based on beginning of the year capital valued at market. Partners not wishing to withdraw money currently can have this credited back to them automatically as an advance payment, drawing 6%, to purchase an additional equity interest in the partnership at yearend. This will solve one stumbling block that has heretofore existed in the path of consolidation, since many partners desire regular withdrawals and others wish to plow everything back;
(D) Một điều khoản về khoản chi trả hằng tháng với mức 6% mỗi năm, tính trên vốn đầu năm được định giá theo giá thị trường. Những thành viên không muốn rút tiền ngay có thể để khoản này tự động được ghi có trở lại cho mình dưới dạng khoản góp vốn trước hạn (advance payment), hưởng lãi 6%, để mua thêm phần vốn góp (equity interest) trong quỹ hợp danh vào cuối năm. Điều này sẽ tháo gỡ một trở ngại vốn tồn tại từ trước đến nay trên con đường hợp nhất, vì nhiều thành viên muốn rút vốn định kỳ trong khi những người khác lại muốn tái đầu tư toàn bộ;
(E) The right to borrow during the year, up to 20% of the value of your partnership interest, at 6%, such loans to be liquidated at yearend or earlier. This will add a degree of liquidity to an investment which can now only be disposed of at yearend. It is not intended that anything but relatively permanent funds be invested in the partnership, and we have no desire to turn it into a bank. Rather, I expect this to be a relatively unused provision, which is available when something unexpected turns up and a wait until yearend to liquidate part of all of a partner’s interest would cause hardship;
(E) Quyền được vay trong năm, tối đa 20% giá trị phần vốn góp của các bạn, với lãi suất 6%, các khoản vay này phải được tất toán vào cuối năm hoặc sớm hơn. Điều này sẽ bổ sung một mức độ thanh khoản cho một khoản đầu tư mà hiện nay chỉ có thể thoái ra vào cuối năm. Không hề có ý định để quỹ hợp danh nhận bất kỳ khoản tiền nào khác ngoài những khoản tiền mang tính tương đối lâu dài, và chúng tôi không hề muốn biến quỹ thành một ngân hàng. Thay vào đó, tôi dự kiến đây sẽ là một điều khoản tương đối ít được sử dụng, luôn sẵn có khi có điều gì đó bất ngờ xảy ra và việc phải chờ đến cuối năm để rút một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của một thành viên sẽ gây khó khăn;
(F) An arrangement whereby any relatively small tax adjustment, made in later years on the partnership’s return will be assessed directly to me. This way, we will not be faced with the problem of asking eighty people, or more, to amend their earlier return over some small matter. As it stands now, a small change, such as a decision that a dividend received by the partnership has 63% a return of capital instead of 68%, could cause a multitude of paper work. To prevent this, any change amounting to less than $1,000 of tax will be charged directly to me.
(F) Một cơ chế theo đó mọi điều chỉnh thuế tương đối nhỏ, được thực hiện trong những năm sau trên tờ khai thuế của quỹ hợp danh, sẽ được tính trực tiếp cho tôi. Bằng cách này, chúng ta sẽ không phải đối mặt với chuyện yêu cầu tám mươi người, hoặc hơn, sửa đổi tờ khai thuế trước đây của họ chỉ vì một vấn đề nhỏ nhặt nào đó. Như hiện nay, một thay đổi nhỏ, chẳng hạn như một quyết định cho rằng một khoản cổ tức mà quỹ hợp danh nhận được có 63% là hoàn trả vốn (return of capital) thay vì 68%, có thể gây ra vô số công việc giấy tờ. Để ngăn chặn điều này, mọi thay đổi có số thuế dưới 1.000 USD sẽ được tính trực tiếp cho tôi.
We have submitted the proposed agreement to Washington for a ruling that the merger would be tax-free, and that the partnership would be treated as a partnership under the tax laws. While all of this is a lot of work, it will make things enormously easier in the future. You might save this letter as a reference to read in conjunction with the agreement which you will receive later in the year.
Chúng tôi đã gửi bản thỏa thuận dự kiến tới Washington để xin văn bản xác nhận về thuế (ruling) rằng việc sáp nhập sẽ được miễn thuế, và rằng quỹ hợp danh sẽ được đối xử như một công ty hợp danh theo luật thuế. Mặc dù tất cả những việc này tốn rất nhiều công sức, chúng sẽ khiến mọi việc trở nên dễ dàng hơn rất nhiều trong tương lai. Các bạn có thể lưu lại lá thư này làm tài liệu tham khảo để đọc cùng với bản thỏa thuận mà các bạn sẽ nhận được sau đó trong năm nay.
The minimum investment for new partners is currently $25,000, but, of course, this does not apply to present partners. Our method of operation will enable the partners to add or withdraw amounts of any size (in round $100) at yearend. Estimated total assets of the partnership will be in the neighborhood of $4 million, which enables us to consider investments such as the one mentioned earlier in this letter, which we would have had to pass several years ago.
Mức đầu tư tối thiểu đối với thành viên mới hiện là 25.000 USD, nhưng tất nhiên, mức này không áp dụng cho các thành viên hiện hữu. Phương thức hoạt động của chúng ta sẽ cho phép các thành viên góp thêm hoặc rút ra những khoản tiền với bất kỳ quy mô nào (theo bội số chẵn 100 USD) vào cuối năm. Tổng tài sản ước tính của quỹ hợp danh sẽ vào khoảng 4 triệu USD, cho phép chúng ta cân nhắc những khoản đầu tư như khoản đã được đề cập ở phần trước của lá thư này, khoản đầu tư mà nếu là vài năm trước thì chúng ta đã phải bỏ qua.
This has turned out to be more of a production than my annual letter. If you have any questions, particularly regarding anything that isn’t clear in my discussion of the new partnership agreement, be sure to let me know. If there are a large number of questions, I will write a supplemental letter to all partners giving the questions that arise and the answers to them.
Hóa ra lá thư này lại công phu hơn cả lá thư thường niên của tôi. Nếu các bạn có bất kỳ câu hỏi nào, đặc biệt là về bất cứ điều gì chưa rõ trong phần tôi trình bày về thỏa thuận hợp danh mới, hãy nhớ cho tôi biết. Nếu có nhiều câu hỏi, tôi sẽ viết một lá thư bổ sung gửi tất cả các thành viên, nêu các câu hỏi được đặt ra cùng các câu trả lời cho những câu hỏi đó.
July 22, 1961
Ngày 22 tháng 7 năm 1961
January 24, 1962
Ngày 24 tháng 1 năm 1962
January 24, 1962
Ngày 24 tháng 1 năm 1962
Our Performance in 1961
Kết quả hoạt động của chúng ta năm 1961
I have consistently told partners that it is my expectation and hope (it's always hard to tell which is which) that we will do relatively well compared to the general market in down or static markets, but that we may not look so good in advancing markets. In strongly advancing markets I expect to have real difficulty keeping up with the general market.
Tôi đã luôn nói với các thành viên rằng tôi kỳ vọng và hy vọng (lúc nào cũng khó mà phân biệt được cái nào là cái nào) rằng chúng ta sẽ làm tương đối tốt so với thị trường chung trong những thị trường đi xuống hoặc đi ngang, nhưng chúng ta có thể trông không được tốt lắm trong những thị trường đi lên. Trong những thị trường tăng mạnh, tôi dự kiến sẽ gặp khó khăn thực sự trong việc theo kịp thị trường chung.
Although 1961 was certainly a good year for the general market, and in addition, a very good year for us on both an absolute and relative basis, the expectations in the previous paragraph remain unchanged.
Mặc dù năm 1961 chắc chắn là một năm tốt đối với thị trường chung, và thêm vào đó, là một năm rất tốt đối với chúng ta xét cả trên cơ sở tuyệt đối lẫn tương đối, những kỳ vọng nêu ở đoạn trên vẫn không thay đổi.
During 1961, the general market as measured by the Dow-Jones Industrial Average (hereinafter called the “Dow”) showed an over-all gain of 22.2% including dividends received through ownership of the Dow. The gain for all partnerships operating throughout the entire year, after all expenses of operation, but before payments to limited partners or accrual to the general partner, averaged 45.9%. The details of this gain by partnership are shown in the appendix along with results for the partnerships started during the year.
Trong năm 1961, thị trường chung, được đo bằng chỉ số Dow-Jones Industrial Average (sau đây gọi là “Dow”), đã đạt mức lãi tổng thể 22,2%, tính cả cổ tức nhận được từ việc sở hữu chỉ số Dow. Mức lãi của tất cả các quỹ hợp danh hoạt động suốt cả năm, sau mọi chi phí hoạt động nhưng trước các khoản chi trả cho thành viên góp vốn hoặc phần trích cho thành viên hợp danh, đạt bình quân 45,9%. Chi tiết mức lãi này theo từng quỹ hợp danh được trình bày trong phụ lục, cùng với kết quả của các quỹ hợp danh được thành lập trong năm.
We have now completed five full years of partnership operation, and the results of these five years are shown below on a year-by-year basis and also on a cumulative or compounded basis. These results are stated on the basis described in the preceding paragraph; after expenses, but before division of gains among partners or payments to partners.
Đến nay chúng ta đã hoàn thành trọn năm năm hoạt động của quỹ hợp danh, và kết quả của năm năm này được trình bày dưới đây theo từng năm và cả trên cơ sở lũy kế hay tính kép. Các kết quả này được trình bày theo cơ sở đã mô tả ở đoạn trên; sau chi phí, nhưng trước khi phân chia lãi giữa các thành viên hoặc chi trả cho các thành viên.
Year Partnerships Operating Entire Partnership Gain Dow-Jones Industrials
Year Gain*
1957 3 10.4% -8.4%
1958 5 40.9% 38.5%
1959 6 25.9% 19.9%
1960 7 22.8% -6.3%
1961 7 45.9% 22.2%
Năm Số quỹ hợp danh hoạt động Lãi quỹ hợp danh Lãi chỉ số Dow-Jones
trọn năm Industrials*
1957 3 10,4% -8,4%
1958 5 40,9% 38,5%
1959 6 25,9% 19,9%
1960 7 22,8% -6,3%
1961 7 45,9% 22,2%
* Including dividends received through ownership of the Dow.
* Tính cả cổ tức nhận được từ việc sở hữu chỉ số Dow.
On a compounded basis, the cumulative results have been:
Trên cơ sở tính kép, các kết quả lũy kế đạt được như sau:
Year Partnership Gain Dow-Jones Industrials Gain
1957 10.4% -8.4%
1957-58 55.6% 26.9%
1057-59 95.9% 52.2%
1957-60 140.6% 42.6%
1957-61 251.0% 74.3%
Năm Lãi quỹ hợp danh Lãi chỉ số Dow-Jones Industrials
1957 10,4% -8,4%
1957-58 55,6% 26,9%
1057-59 95,9% 52,2%
1957-60 140,6% 42,6%
1957-61 251,0% 74,3%
These results do not measure the gain to the limited partner, which of course, is the figure in which you are most interested. Because of the varying partnership arrangements that have existed in the past, I have used the over-all net gain (based on market values at the beginning and end of the year) to the partnership as being the fairest measure of over-all performance.
Các kết quả này không đo lường mức lãi dành cho thành viên góp vốn, mà tất nhiên đó là con số các bạn quan tâm nhất. Do các phương án hợp danh khác nhau từng tồn tại trước đây, tôi đã sử dụng mức lãi ròng tổng thể (dựa trên giá trị thị trường vào đầu năm và cuối năm) của quỹ hợp danh làm thước đo công bằng nhất cho kết quả hoạt động tổng thể.
On a pro-forma basis adjusted to the division of gains entailed in our present Buffett Partnership, Ltd. agreement, the results would have been:
Theo dạng giả định (pro-forma), được điều chỉnh theo cách phân chia lãi quy định trong thỏa thuận hợp danh Buffett Partnership, Ltd. hiện tại của chúng ta, kết quả sẽ là:
Year Limited Partners’ Gain Dow Gain
1957 9.3% -8.4%
1958 32.2% 38.5%
1959 20.9% 19.9%
1960 18.6% -6.3%
1961 35.9% 22.2%
COMPOUNDED
1957 9.3% -8.4%
1957-58 44.5% 26.9%
1957-59 74.7% 52.2%
1957-60 107.2% 42.6%
1957-61 181.6% 74.3%
Năm Lãi của thành viên góp vốn Lãi chỉ số Dow
1957 9,3% -8,4%
1958 32,2% 38,5%
1959 20,9% 19,9%
1960 18,6% -6,3%
1961 35,9% 22,2%
TÍNH KÉP
1957 9,3% -8,4%
1957-58 44,5% 26,9%
1957-59 74,7% 52,2%
1957-60 107,2% 42,6%
1957-61 181,6% 74,3%
A Word About Par
Đôi lời về điểm chuẩn (Par)
The outstanding item of importance in my selection of partners, as well as in my subsequent relations with them, has been the determination that we use the same yardstick. If my performance is poor, I expect partners to withdraw, and indeed, I should look for a new source of investment for my own funds. If performance is good, I am assured of doing splendidly, a state of affairs to which I am sure I can adjust.
Điều quan trọng nổi bật nhất trong việc tôi lựa chọn các thành viên, cũng như trong mối quan hệ của tôi với họ sau đó, là việc xác định rằng chúng ta sử dụng cùng một thước đo. Nếu kết quả của tôi kém, tôi dự kiến các thành viên sẽ rút vốn, và quả thực, chính tôi cũng nên tìm một nơi đầu tư mới cho tiền của mình. Nếu kết quả tốt, tôi chắc chắn sẽ làm ăn cực kỳ phát đạt, một tình trạng mà tôi tin chắc mình có thể thích nghi được.
The rub, then, is in being sure that we all have the same ideas of what is good and what is poor. I believe in establishing yardsticks prior to the act; retrospectively, almost anything can be made to look good in relation to something or other.
Vậy thì, cái khó nằm ở chỗ bảo đảm rằng tất cả chúng ta đều có cùng quan niệm về thế nào là tốt và thế nào là kém. Tôi tin vào việc thiết lập các thước đo trước khi hành động; khi nhìn lại về sau, hầu như bất cứ điều gì cũng có thể được làm cho trông có vẻ tốt khi đặt cạnh cái này hay cái khác.
I have continuously used the Dow-Jones Industrial Average as our measure of par. It is my feeling that three years is a very minimal test of performance, and the best test consists of a period at least that long where the terminal level of the Dow is reasonably close to the initial level.
Tôi đã liên tục sử dụng chỉ số Dow-Jones Industrial Average làm thước đo điểm chuẩn của chúng ta. Cảm nhận của tôi là ba năm là một phép thử kết quả ở mức rất tối thiểu, và phép thử tốt nhất là một giai đoạn ít nhất dài như vậy, trong đó mức cuối kỳ của chỉ số Dow khá gần với mức đầu kỳ.
While the Dow is not perfect (nor is anything else) as a measure of performance, it has the advantage of being widely known, has a long period of continuity, and reflects with reasonable accuracy the experience of investors generally with the market. I have no objection to any other method of measurement of general market performance being used, such as other stock market averages, leading diversified mutual stock funds, bank common trust funds, etc.
Mặc dù chỉ số Dow không hoàn hảo (và cũng chẳng có thứ gì khác hoàn hảo) với vai trò thước đo kết quả, chỉ số này có ưu điểm là được biết đến rộng rãi, có tính liên tục trong một thời gian dài, và phản ánh với độ chính xác hợp lý trải nghiệm của các nhà đầu tư nói chung đối với thị trường. Tôi không phản đối việc sử dụng bất kỳ phương pháp nào khác để đo lường kết quả của thị trường chung, chẳng hạn như các chỉ số bình quân khác của thị trường chứng khoán, các quỹ cổ phiếu tương hỗ đa dạng hóa hàng đầu, các quỹ ủy thác chung của ngân hàng, v.v.
You may feel I have established an unduly short yardstick in that it perhaps appears quite simple to do better than an unmanaged index of 30 leading common stocks. Actually, this index has generally proven to be a reasonably tough competitor. Arthur Wiesenberger’s classic book on investment companies lists performance for the 15 years 1946-60, for all leading mutual funds. There is presently over $20 billion invested in mutual funds, so the experience of these funds represents, collectively, the experience of many million investors. My own belief, though the figures are not obtainable, is that portfolios of most leading investment counsel organizations and bank trust departments have achieved results similar to these mutual funds.
Các bạn có thể cảm thấy tôi đã đặt ra một thước đo ngắn quá mức, ở chỗ việc làm tốt hơn một chỉ số không được quản lý gồm 30 cổ phiếu phổ thông (common stocks) hàng đầu có lẽ trông khá đơn giản. Thực tế, chỉ số này nhìn chung đã chứng tỏ là một đối thủ khá khó nhằn. Cuốn sách kinh điển về các công ty đầu tư (investment companies) của Arthur Wiesenberger liệt kê kết quả hoạt động trong 15 năm 1946-60 của tất cả các quỹ tương hỗ (mutual funds) hàng đầu. Hiện có hơn 20 tỷ USD được đầu tư vào các quỹ tương hỗ, vì vậy trải nghiệm của các quỹ này, xét chung, đại diện cho trải nghiệm của nhiều triệu nhà đầu tư. Niềm tin riêng của tôi, dù không có được số liệu, là danh mục của hầu hết các tổ chức tư vấn đầu tư và bộ phận ủy thác của ngân hàng (bank trust departments) hàng đầu đã đạt kết quả tương tự như các quỹ tương hỗ này.
Wiesenberger lists 70 funds in his “Charts & Statistics” with continuous records since 1946. I have excluded 32 of these funds for various reasons since they were balanced funds (therefore not participating fully in the general market rise), specialized industry funds, etc. Of the 32 excluded because I felt a comparison would not be fair, 31 did poorer than the Dow, so they were certainly not excluded to slant the conclusions below.
Trong cuốn “Charts & Statistics” của mình, Wiesenberger liệt kê 70 quỹ có số liệu liên tục kể từ năm 1946. Tôi đã loại 32 quỹ trong số này vì nhiều lý do khác nhau, bởi đó là các quỹ cân bằng (vì vậy không tham gia đầy đủ vào đà tăng của thị trường chung), các quỹ chuyên về một ngành, v.v. Trong 32 quỹ bị loại vì tôi cho rằng việc so sánh sẽ không công bằng, có 31 quỹ đạt kết quả kém hơn chỉ số Dow, vì vậy chắc chắn những quỹ này không bị loại ra nhằm làm lệch các kết luận dưới đây.
Of the remaining 38 mutual funds whose method of operation I felt was such as to make a comparison with the Dow reasonable, 32 did poorer than the Dow, and 6 did better. The 6 doing better at the end of 1960 had assets of about $1 billion, and the 32 doing poorer had assets of about $6-1/2 billion. None of the six that were superior beat the Dow by more than a few percentage points a year.
Trong 38 quỹ tương hỗ còn lại, những quỹ mà tôi cảm thấy phương thức hoạt động phù hợp để việc so sánh với chỉ số Dow là hợp lý, có 32 quỹ đạt kết quả kém hơn chỉ số Dow, và 6 quỹ đạt kết quả tốt hơn. Vào cuối năm 1960, 6 quỹ đạt kết quả tốt hơn có tài sản khoảng 1 tỷ USD, và 32 quỹ đạt kết quả kém hơn có tài sản khoảng 6-1/2 tỷ USD. Không quỹ nào trong số sáu quỹ vượt trội đánh bại chỉ số Dow quá vài điểm phần trăm mỗi năm.
Below I present the year-by-year results for our period of operation (excluding 1961 for which I don't have exact data, although rough figures indicate no variance from the 1957-60 figures) for the two largest common stock open-end investment companies (mutual funds) and the two largest closed-end investment companies:
Dưới đây tôi trình bày kết quả từng năm trong giai đoạn hoạt động của chúng ta (không bao gồm năm 1961, năm mà tôi chưa có số liệu chính xác, mặc dù các số liệu sơ bộ cho thấy không có sự khác biệt so với số liệu 1957-60) của hai công ty đầu tư cổ phiếu phổ thông dạng mở (open-end) lớn nhất (quỹ tương hỗ) và hai công ty đầu tư dạng đóng (closed-end) lớn nhất:
Year Mass. Inv. Investors Lehman Tri-Cont. Dow Limited
Trust Stock Partners
1957 -12.0% -12.4% -11.4% -2.4% -8.4% 9.3%
1958 44.1% 47.6% 40.8% 33.2% 38.5% 32.2%
1959 8.2% 10.3% 8.1% 8.4% 19.9% 20.9%
1960 -0.9% -0.1% 2.6% 2.8% -6.3% 18.6%
(From Moody’s Banks & Finance Manual, 1961)
COMPOUNDED
Year Mass. Inv. Investors Lehman Tri-Cont. Dow Limited
Trust Stock Partners
1957 -12.0% -12.4% -11.4% -2.4% -8.4% 9.3%
1957-58 26.8% 29.3% 24.7% 30.0% 26.9% 44.5%
1957-59 37.2% 42.6% 34.8% 40.9% 52.2% 74.7%
1957-60 36.0% 42.5% 38.3% 44.8% 42.6% 107.2%
Năm Mass. Inv. Investors Lehman Tri-Cont. Dow Thành viên
Trust Stock góp vốn
1957 -12,0% -12,4% -11,4% -2,4% -8,4% 9,3%
1958 44,1% 47,6% 40,8% 33,2% 38,5% 32,2%
1959 8,2% 10,3% 8,1% 8,4% 19,9% 20,9%
1960 -0,9% -0,1% 2,6% 2,8% -6,3% 18,6%
(Nguồn: Moody’s Banks & Finance Manual, 1961)
TÍNH KÉP
Năm Mass. Inv. Investors Lehman Tri-Cont. Dow Thành viên
Trust Stock góp vốn
1957 -12,0% -12,4% -11,4% -2,4% -8,4% 9,3%
1957-58 26,8% 29,3% 24,7% 30,0% 26,9% 44,5%
1957-59 37,2% 42,6% 34,8% 40,9% 52,2% 74,7%
1957-60 36,0% 42,5% 38,3% 44,8% 42,6% 107,2%
Massachusetts Investors Trust has net assets of about $1.8 billion; Investors Stock Fund about $1 billion; Tri -Continental Corporation about $ .5 billion; and Lehman Corporation about $350 million; or a total of over $3.5 billion.
Massachusetts Investors Trust có tài sản ròng (net assets) khoảng 1,8 tỷ USD; Investors Stock Fund khoảng 1 tỷ USD; Tri-Continental Corporation khoảng 0,5 tỷ USD; và Lehman Corporation khoảng 350 triệu USD; tức tổng cộng hơn 3,5 tỷ USD.
I do not present the above tabulations and information with the idea of indicting investment companies. My own record of investing such huge sums of money, with restrictions on the degree of activity I might take in companies where we had investments, would be no better, if as good. I present this data to indicate the Dow as an investment competitor is no pushover, and the great bulk of investment funds in the country are going to have difficulty in bettering, or perhaps even matching, its performance.
Tôi trình bày các bảng số liệu và thông tin trên không phải với ý định buộc tội các công ty đầu tư. Thành tích của chính tôi khi đầu tư những khoản tiền khổng lồ như vậy, với những hạn chế về mức độ hành động mà tôi có thể thực hiện tại các công ty mà chúng ta đầu tư, sẽ không khá hơn, nếu không muốn nói là chưa chắc đã bằng. Tôi trình bày dữ liệu này để cho thấy chỉ số Dow, với tư cách một đối thủ đầu tư, không phải là đối thủ dễ bị đánh bại, và phần lớn các quỹ đầu tư ở đất nước này sẽ gặp khó khăn trong việc vượt qua, hoặc có lẽ thậm chí chỉ là theo kịp, kết quả của chỉ số này.
Our portfolio is very different from that of the Dow. Our method of operation is substantially different from that of mutual funds.
Danh mục của chúng ta rất khác so với danh mục của chỉ số Dow. Phương thức hoạt động của chúng ta khác biệt đáng kể so với phương thức của các quỹ tương hỗ.
However, most partners, as all alternative to their investment in the partnership, would probably have their funds invested in a media producing results comparable to the Dow, therefore, I feel it is a fair test of performance.
Tuy nhiên, hầu hết các thành viên, như một phương án thay thế cho khoản đầu tư của họ vào quỹ hợp danh, có lẽ sẽ đặt tiền của mình vào một kênh mang lại kết quả tương đương với chỉ số Dow; vì vậy, tôi cảm thấy đây là một phép thử công bằng về kết quả hoạt động.
Our Method of Operation
Phương thức hoạt động của chúng ta
Our avenues of investment break down into three categories. These categories have different behavior characteristics, and the way our money is divided among them will have an important effect on our results, relative to the Dow in any given year. The actual percentage division among categories is to some degree planned, but to a great extent, accidental, based upon availability factors.
Các kênh đầu tư của chúng ta được chia thành ba nhóm. Các nhóm này có đặc tính diễn biến khác nhau, và cách phân chia tiền của chúng ta giữa các nhóm sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả của chúng ta so với chỉ số Dow trong bất kỳ năm nào. Tỷ lệ phân chia thực tế giữa các nhóm ở một mức độ nào đó là có kế hoạch, nhưng phần lớn là ngẫu nhiên, tùy thuộc vào các yếu tố về mức độ sẵn có.
The first section consists of generally undervalued securities (hereinafter called "generals") where we have nothing to say about corporate policies and no timetable as to when the undervaluation may correct itself. Over the years, this has been our largest category of investment, and more money has been made here than in either of the other categories. We usually have fairly large positions (5% to 10% of our total assets) in each of five or six generals, with smaller positions in another ten or fifteen.
Nhóm thứ nhất gồm những chứng khoán nhìn chung bị định giá thấp (sau đây gọi là "khoản đầu tư thông thường" (generals)), ở đó chúng ta không có tiếng nói gì về chính sách của doanh nghiệp và không có lịch trình nào cho biết khi nào tình trạng bị định giá thấp có thể tự điều chỉnh. Qua nhiều năm, đây là nhóm đầu tư lớn nhất của chúng ta, và lượng tiền kiếm được ở nhóm này nhiều hơn so với ở bất kỳ nhóm nào trong hai nhóm còn lại. Chúng ta thường có những vị thế khá lớn (từ 5% đến 10% tổng tài sản của chúng ta) ở mỗi khoản trong năm hoặc sáu khoản đầu tư thông thường, cùng với những vị thế nhỏ hơn ở mười hoặc mười lăm khoản khác.
Sometimes these work out very fast; many times they take years. It is difficult at the time of purchase to know any specific reason why they should appreciate in price. However, because of this lack of glamour or anything pending which might create immediate favorable market action, they are available at very cheap prices. A lot of value can be obtained for the price paid. This substantial excess of value creates a comfortable margin of safety in each transaction. This individual margin of safety, coupled with a diversity of commitments creates a most attractive package of safety and appreciation potential. Over the years our timing of purchases has been considerably better than our timing of sales. We do not go into these generals with the idea of getting the last nickel, but are usually quite content selling out at some intermediate level between our purchase price and what we regard as fair value to a private owner.
Đôi khi những khoản này đi đến kết quả rất nhanh; nhiều lần chúng mất hàng năm trời. Tại thời điểm mua, rất khó để biết bất kỳ lý do cụ thể nào khiến chúng sẽ tăng giá. Tuy nhiên, chính vì thiếu sự hào nhoáng hay bất kỳ sự kiện sắp xảy ra nào có thể tạo ra diễn biến thị trường thuận lợi ngay lập tức, chúng có thể được mua ở mức giá rất rẻ. Có thể nhận được rất nhiều giá trị so với mức giá phải trả. Phần giá trị vượt trội đáng kể này tạo ra một biên an toàn (margin of safety) thoải mái trong mỗi giao dịch. Biên an toàn riêng lẻ này, kết hợp với sự đa dạng của các khoản đầu tư, tạo ra một tổ hợp hết sức hấp dẫn giữa sự an toàn và tiềm năng tăng giá. Qua nhiều năm, việc chọn thời điểm mua của chúng ta đã tốt hơn đáng kể so với việc chọn thời điểm bán. Chúng ta không tham gia vào những khoản đầu tư thông thường này với ý định kiếm cho bằng được đồng năm xu cuối cùng, mà thường hoàn toàn hài lòng với việc bán ra ở một mức trung gian nào đó giữa giá mua của chúng ta và mức mà chúng ta xem là giá trị hợp lý (fair value) đối với một chủ sở hữu tư nhân.
The generals tend to behave market-wise very much in sympathy with the Dow. Just because something is cheap does not mean it is not going to go down. During abrupt downward movements in the market, this segment may very well go down percentage-wise just as much as the Dow. Over a period of years, I believe the generals will outperform the Dow, and during sharply advancing years like 1961, this is the section of our portfolio that turns in the best results. It is, of course, also the most vulnerable in a declining market.
Các khoản đầu tư thông thường có xu hướng diễn biến trên thị trường rất đồng điệu với chỉ số Dow. Chỉ vì một thứ gì đó rẻ không có nghĩa là thứ đó sẽ không giảm giá. Trong những đợt thị trường đi xuống đột ngột, phân khúc này hoàn toàn có thể giảm về tỷ lệ phần trăm nhiều không kém chỉ số Dow. Trong khoảng thời gian nhiều năm, tôi tin rằng các khoản đầu tư thông thường sẽ đạt kết quả tốt hơn chỉ số Dow, và trong những năm tăng mạnh như năm 1961, đây là phần trong danh mục của chúng ta mang lại kết quả tốt nhất. Tất nhiên, đây cũng là phần dễ tổn thương nhất trong một thị trường đi xuống.
Our second category consists of “work-outs.” These are securities whose financial results depend on corporate action rather than supply and demand factors created by buyers and sellers of securities. In other words, they are securities with a timetable where we can predict, within reasonable error limits, when we will get how much and what might upset the applecart. Corporate events such as mergers, liquidations, reorganizations, spin-offs, etc., lead to work-outs. An important source in recent years has been sell-outs by oil producers to major integrated oil companies.
Nhóm thứ hai của chúng ta gồm các “khoản đầu tư theo sự kiện” (work-outs). Đây là những chứng khoán mà kết quả tài chính phụ thuộc vào hành động doanh nghiệp (corporate action) thay vì các yếu tố cung cầu do người mua và người bán chứng khoán tạo ra. Nói cách khác, đó là những chứng khoán có lịch trình, ở đó chúng ta có thể dự đoán, trong phạm vi sai số hợp lý, khi nào chúng ta sẽ thu được bao nhiêu và điều gì có thể làm hỏng chuyện. Các sự kiện doanh nghiệp như sáp nhập, thanh lý, tổ chức lại doanh nghiệp (reorganizations), tách công ty (spin-offs), v.v., dẫn đến các khoản đầu tư theo sự kiện. Một nguồn quan trọng trong những năm gần đây là các thương vụ bán toàn bộ doanh nghiệp của các nhà sản xuất dầu cho các công ty dầu khí tích hợp lớn.
This category will produce reasonably stable earnings from year to year, to a large extent irrespective of the course of the Dow. Obviously, if we operate throughout a year with a large portion of our portfolio in work-outs, we will look extremely good if it turns out to be a declining year for the Dow or quite bad if it is a strongly advancing year. Over the years, work-outs have provided our second largest category. At any given time, we may be in ten to fifteen of these; some just beginning and others in the late stage of their development. I believe in using borrowed money to offset a portion of our work-out portfolio since there is a high degree of safety in this category in terms of both eventual results and intermediate market behavior. Results, excluding the benefits derived from the use of borrowed money, usually fall in the 10% to 20% range. My self-imposed limit regarding borrowing is 25% of partnership net worth. Oftentimes we owe no money and when we do borrow, it is only as an offset against work-outs.
Nhóm này sẽ tạo ra lợi nhuận khá ổn định qua từng năm, phần lớn không phụ thuộc vào diễn biến của chỉ số Dow. Hiển nhiên, nếu chúng ta hoạt động suốt một năm với một phần lớn danh mục nằm ở các khoản đầu tư theo sự kiện, chúng ta sẽ trông cực kỳ tốt nếu đó hóa ra là một năm đi xuống của chỉ số Dow, hoặc khá tệ nếu đó là một năm tăng mạnh. Qua nhiều năm, các khoản đầu tư theo sự kiện là nhóm lớn thứ hai của chúng ta. Vào bất kỳ thời điểm nào, chúng ta có thể nắm giữ từ mười đến mười lăm khoản như vậy; một số mới bắt đầu và số khác đang ở giai đoạn cuối của quá trình diễn tiến. Tôi tin vào việc sử dụng tiền vay để đối ứng với một phần danh mục khoản đầu tư theo sự kiện của chúng ta, vì nhóm này có mức độ an toàn cao xét cả về kết quả cuối cùng lẫn diễn biến thị trường trong giai đoạn giữa chừng. Kết quả, không tính các lợi ích có được từ việc sử dụng tiền vay, thường nằm trong khoảng từ 10% đến 20%. Giới hạn tự đặt ra của tôi đối với việc vay nợ là 25% giá trị tài sản ròng (net worth) của quỹ hợp danh. Thường thì chúng ta không nợ đồng nào, và khi chúng ta có vay, thì cũng chỉ là để đối ứng với các khoản đầu tư theo sự kiện.
The final category is "control" situations where we either control the company or take a very large position and attempt to influence policies of the company. Such operations should definitely be measured on the basis of several years. In a given year, they may produce nothing as it is usually to our advantage to have the stock be stagnant market-wise for a long period while we are acquiring it. These situations, too, have relatively little in common with the behavior of the Dow. Sometimes, of course, we buy into a general with the thought in mind that it might develop into a control situation. If the price remains low enough for a long period, this might very well happen. If it moves up before we have a substantial percentage of the company's stock, we sell at higher levels and complete a successful general operation. We are presently acquiring stock in what may turn out to be control situations several years hence.
Nhóm cuối cùng là các tình huống "kiểm soát" (control situations), trong đó chúng ta hoặc kiểm soát công ty, hoặc nắm một vị thế rất lớn và cố gắng tác động đến các chính sách của công ty. Những hoạt động như vậy chắc chắn cần được đánh giá trên cơ sở nhiều năm. Trong một năm nhất định, chúng có thể không mang lại kết quả gì, vì chúng ta thường có lợi khi cổ phiếu đứng yên về mặt giá thị trường trong một thời gian dài trong lúc chúng ta đang gom mua. Các tình huống này cũng tương đối ít có điểm chung với diễn biến của chỉ số Dow. Tất nhiên, đôi khi chúng ta mua vào một khoản đầu tư thông thường với ý nghĩ rằng khoản này có thể phát triển thành một tình huống kiểm soát. Nếu giá vẫn đủ thấp trong một thời gian dài, điều này rất có thể xảy ra. Nếu giá tăng lên trước khi chúng ta nắm được một tỷ lệ đáng kể cổ phiếu của công ty, chúng ta bán ra ở mức giá cao hơn và hoàn tất một thương vụ thông thường thành công. Hiện nay chúng ta đang gom mua cổ phiếu ở những trường hợp mà vài năm nữa có thể sẽ trở thành các tình huống kiểm soát.
We are presently involved in the control of Dempster Mill Manufacturing Company of Beatrice, Nebraska. Our first stock was purchased as a generally undervalued security five years ago. A block later became available, and I went on the Board about four years ago. In August 1961, we obtained majority control, which is indicative of the fact that many of our operations are not exactly of the "overnight" variety.
Hiện nay chúng ta đang tham gia vào việc kiểm soát Dempster Mill Manufacturing Company tại Beatrice, Nebraska. Số cổ phiếu đầu tiên của chúng ta được mua cách đây năm năm, với tư cách một chứng khoán nhìn chung bị định giá thấp. Sau đó có một lô cổ phiếu lớn được chào bán, và tôi tham gia Hội đồng quản trị cách đây khoảng bốn năm. Vào tháng 8 năm 1961, chúng ta giành được quyền kiểm soát đa số, điều này cho thấy thực tế rằng nhiều hoạt động của chúng ta không hẳn thuộc loại "qua một đêm".
Presently we own 70% of the stock of Dempster with another 10% held by a few associates. With only 150 or so other stockholders, a market on the stock is virtually non-existent, and in any case, would have no meaning for a controlling block. Our own actions in such a market could drastically affect the quoted price.
Hiện nay chúng ta sở hữu 70% cổ phiếu của Dempster, cùng với 10% khác do một vài cộng sự nắm giữ. Với chỉ khoảng 150 cổ đông khác, thị trường giao dịch cổ phiếu này hầu như không tồn tại, và dù sao đi nữa, thị trường đó cũng sẽ không có ý nghĩa gì đối với một khối cổ phần chi phối (controlling block). Chính hành động của chúng ta trên một thị trường như vậy có thể tác động rất mạnh đến giá yết.
Therefore, it is necessary for me to estimate the value at yearend of our controlling interest. This is of particular importance since, in effect, new partners are buying in based upon this price, and old partners are selling a portion of their interest based upon the same price. The estimated value should not be what we hope it would be worth, or what it might be worth to an eager buyer, etc., but what I would estimate our interest would bring if sold under current conditions in a reasonably short period of time. Our efforts will be devoted toward increasing this value, and we feel there are decent prospects of doing this.
Vì vậy, tôi cần phải ước tính giá trị cổ phần chi phối của chúng ta tại thời điểm cuối năm. Điều này đặc biệt quan trọng vì, trên thực tế, các thành viên mới đang mua vào dựa trên mức giá này, và các thành viên cũ đang bán ra một phần trong phần vốn góp của mình dựa trên cùng mức giá đó. Giá trị ước tính không nên là mức mà chúng ta hy vọng khoản nắm giữ này đáng giá, hay mức mà khoản này có thể đáng giá đối với một người mua đang háo hức, v.v., mà là số tiền mà tôi ước tính phần cổ phần của chúng ta sẽ thu về nếu được bán trong điều kiện hiện tại, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Nỗ lực của chúng tôi sẽ được dành cho việc gia tăng giá trị này, và chúng tôi cảm thấy có triển vọng khá tốt để làm được điều đó.
Dempster is a manufacturer of farm implements and water systems with sales in 1961 of about $9 million. Operations have produced only nominal profits in relation to invested capital during recent years. This reflected a poor management situation, along with a fairly tough industry situation. Presently, consolidated net worth (book value) is about $4.5 million, or $75 per share, consolidated working capital about $50 per share, and at yearend we valued our interest at $35 per share. While I claim no oracular vision in a matter such as this, I feel this is a fair valuation to both new and old partners. Certainly, if even moderate earning power can be restored, a higher valuation will be justified, and even if it cannot, Dempster should work out at a higher figure. Our controlling interest was acquired at an average price of about $28, and this holding currently represents 21% of partnership net assets based on the $35 value.
Dempster là một nhà sản xuất nông cụ và hệ thống cấp nước, với doanh số năm 1961 vào khoảng 9 triệu USD. Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh chỉ tạo ra mức lợi nhuận tượng trưng so với vốn đã đầu tư. Điều này phản ánh tình trạng quản lý yếu kém, cùng với tình hình ngành khá khó khăn. Hiện nay, giá trị tài sản ròng hợp nhất (giá trị sổ sách (book value)) vào khoảng 4,5 triệu USD, tức 75 USD mỗi cổ phiếu, vốn lưu động (working capital) hợp nhất khoảng 50 USD mỗi cổ phiếu, và vào cuối năm chúng tôi định giá phần cổ phần của chúng ta ở mức 35 USD mỗi cổ phiếu. Dù tôi không dám nhận mình có tầm nhìn tiên tri trong một vấn đề như thế này, tôi cảm thấy đây là mức định giá công bằng đối với cả thành viên mới lẫn thành viên cũ. Chắc chắn rằng, nếu có thể khôi phục được khả năng sinh lời (earning power) dù chỉ ở mức vừa phải, một mức định giá cao hơn sẽ là xác đáng, và ngay cả khi không khôi phục được, Dempster vẫn được kỳ vọng sẽ mang lại kết quả cuối cùng ở một con số cao hơn. Cổ phần chi phối của chúng ta được mua vào với giá bình quân khoảng 28 USD, và khoản nắm giữ này hiện chiếm 21% tài sản ròng của quỹ hợp danh, tính theo mức giá trị 35 USD.
Of course, this section of our portfolio is not going to be worth more money merely because General Motors, U.S. Steel, etc., sell higher. In a raging bull market, operations in control situations will seem like a very difficult way to make money, compared to just buying the general market. However, I am more conscious of the dangers presented at current market levels than the opportunities. Control situations, along with work-outs, provide a means of insulating a portion of our portfolio from these dangers.
Tất nhiên, phần này trong danh mục của chúng ta sẽ không trở nên đáng giá hơn chỉ vì General Motors, U.S. Steel, v.v., được bán với giá cao hơn. Trong một thị trường giá lên cuồng nhiệt, các hoạt động trong tình huống kiểm soát sẽ có vẻ là một cách kiếm tiền rất khó khăn, so với việc chỉ đơn giản mua theo thị trường chung. Tuy nhiên, tôi ý thức về những mối nguy hiểm hiện diện ở các mức giá hiện tại của thị trường nhiều hơn là về các cơ hội. Các tình huống kiểm soát, cùng với các khoản đầu tư theo sự kiện, tạo ra một phương tiện để cách ly một phần danh mục của chúng ta khỏi những mối nguy hiểm này.
The Question of Conservatism
Vấn đề về sự thận trọng
The above description of our various areas of operation may provide some clues as to how conservatively our portfolio is invested. Many people some years back thought they were behaving in the most conservative manner by purchasing medium or long-term municipal or government bonds. This policy has produced substantial market depreciation in many cases, and most certainly has failed to maintain or increase real buying power.
Phần mô tả ở trên về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của chúng ta có thể đưa ra một số manh mối về việc danh mục của chúng ta được đầu tư thận trọng đến mức nào. Cách đây vài năm, nhiều người đã nghĩ rằng họ đang hành xử theo cách thận trọng nhất khi mua trái phiếu chính quyền địa phương hoặc trái phiếu chính phủ (municipal or government bonds) trung hạn hoặc dài hạn. Chính sách này trong nhiều trường hợp đã dẫn đến sụt giảm giá thị trường đáng kể, và chắc chắn nhất là đã thất bại trong việc duy trì hay gia tăng sức mua thực.
Conscious, perhaps overly conscious, of inflation, many people now feel that they are behaving in a conservative manner by buying blue chip securities almost regardless of price-earnings ratios, dividend yields, etc. Without the benefit of hindsight as ill the bond example, I feel this course of action is fraught with danger. There is nothing at all conservative, in my opinion, about speculating as to just how high a multiplier a greedy and capricious public will put on earnings.
Ý thức được, có lẽ là ý thức quá mức, về lạm phát, nhiều người hiện nay cảm thấy rằng họ đang hành xử một cách thận trọng khi mua chứng khoán blue-chip gần như bất kể hệ số giá trên lợi nhuận (price-earnings ratios), tỷ suất cổ tức, v.v. Dù không có được lợi thế của sự nhìn lại như trong ví dụ về trái phiếu, tôi cảm thấy đường lối hành động này đầy rẫy nguy hiểm. Theo quan điểm của tôi, chẳng có gì là thận trọng cả trong việc đầu cơ xem một công chúng tham lam và thất thường sẽ gán cho lợi nhuận một hệ số nhân (multiplier) cao đến mức nào.
You will not be right simply because a large number of people momentarily agree with you. You will not be right simply because important people agree with you. In many quarters the simultaneous occurrence of the two above factors is enough to make a course of action meet the test of conservatism.
Người ta sẽ không đúng chỉ vì có đông người nhất thời đồng tình với mình. Người ta sẽ không đúng chỉ vì có những nhân vật quan trọng đồng tình với mình. Trong nhiều giới, việc hai yếu tố trên xảy ra đồng thời là đủ để một đường lối hành động vượt qua được phép thử về sự thận trọng.
You will be right, over the course of many transactions, if your hypotheses are correct, your facts are correct, and your reasoning is correct. True conservatism is only possible through knowledge and reason.
Người ta sẽ đúng, xét qua nhiều giao dịch, nếu các giả thuyết của mình đúng, các dữ kiện của mình đúng, và lập luận của mình đúng. Sự thận trọng thực sự chỉ có thể có được thông qua hiểu biết và lý trí.
I might add that in no way does the fact that our portfolio is not conventional prove that we are more conservative or less conservative than standard methods of investing. This can only be determined by examining the methods or examining the results.
Tôi có thể nói thêm rằng việc danh mục của chúng ta không theo thông lệ hoàn toàn không chứng minh được rằng chúng ta thận trọng hơn hay kém thận trọng hơn so với các phương pháp đầu tư tiêu chuẩn. Điều này chỉ có thể được xác định bằng cách xem xét các phương pháp hoặc xem xét các kết quả.
I feel the most objective test as to just how conservative our manner of investing is arises through evaluation of performance in down markets. Preferably these should involve a substantial decline in the Dow. Our performance in the rather mild declines of 1957 and 1960 would confirm my hypothesis that we invest in an extremely conservative manner. I would welcome any partner’s suggesting objective tests as to conservatism to see how we stack up. We have never suffered a realized loss of more than 0.5% of 1% of total net assets, and our ratio of total dollars of realized gains to total realized losses is something like 100 to 1. Of course; this reflects the fact that on balance we have been operating in an up market. However, there have been many opportunities for loss transactions even in markets such as these (you may have found out about a few of these yourselves) so I think the above facts have some significance.
Tôi cảm thấy phép thử khách quan nhất về việc cách thức đầu tư của chúng ta thận trọng đến mức nào có được thông qua việc đánh giá kết quả hoạt động trong những thị trường đi xuống. Tốt nhất là các thị trường này nên bao gồm một đợt sụt giảm đáng kể của chỉ số Dow. Kết quả hoạt động của chúng ta trong những đợt sụt giảm khá nhẹ của năm 1957 và 1960 sẽ xác nhận giả thuyết của tôi rằng chúng ta đầu tư theo cách cực kỳ thận trọng. Tôi rất hoan nghênh bất kỳ thành viên nào đề xuất những phép thử khách quan về sự thận trọng để xem chúng ta đạt đến đâu. Chúng ta chưa bao giờ chịu một khoản lỗ đã thực hiện nào lớn hơn 0,5% của 1% tổng tài sản ròng, và tỷ lệ giữa tổng số tiền lãi đã thực hiện (realized gains) so với tổng số lỗ đã thực hiện của chúng ta vào khoảng 100 so với 1. Tất nhiên, điều này phản ánh thực tế rằng, xét tổng thể, chúng ta đã hoạt động trong một thị trường đi lên. Tuy nhiên, vẫn có nhiều cơ hội để thực hiện những giao dịch thua lỗ ngay cả trong những thị trường như thế này (có lẽ chính các bạn cũng đã tự mình phát hiện ra một vài cơ hội như vậy), vì thế tôi nghĩ những dữ kiện trên có một ý nghĩa nhất định.
The Question of Size
Vấn đề về quy mô
Aside from the question as to what happens upon my death (which with a metaphysical twist, is a subject of keen interest to me), I am probably asked most often: "What affect is the rapid growth of partnership funds going to have upon performance?”
Ngoài câu hỏi về việc điều gì sẽ xảy ra khi tôi qua đời (điều mà, xét ở một góc độ siêu hình, là chủ đề tôi hết sức quan tâm), câu hỏi có lẽ tôi được hỏi nhiều nhất là: "Sự tăng trưởng nhanh chóng của nguồn vốn quỹ hợp danh sẽ có ảnh hưởng gì đến kết quả hoạt động?”
Larger funds tug in two directions. From the standpoint of "passive" investments, where we do not attempt by the size of our investment to influence corporate policies, larger sums hurt results. For the mutual fund or trust department investing in securities with very broad markets, the effect of large sums should be to penalize results only very slightly. Buying 10,000 shares of General Motors is only slightly more costly (on the basis of mathematical expectancy) than buying 1,000 or 100 shares.
Nguồn vốn lớn hơn kéo về hai phía. Xét từ góc độ các khoản đầu tư "thụ động" ("passive" investments), nơi chúng ta không cố gắng dùng quy mô khoản đầu tư của mình để tác động đến chính sách của doanh nghiệp, số tiền lớn hơn gây tổn hại cho kết quả. Đối với quỹ tương hỗ hoặc bộ phận ủy thác đầu tư vào những chứng khoán có thị trường rất rộng, tác động của những khoản tiền lớn dự kiến sẽ chỉ khiến kết quả bị thiệt rất nhẹ. Mua 10.000 cổ phiếu General Motors chỉ tốn kém hơn một chút (xét trên cơ sở kỳ vọng toán học) so với mua 1.000 hay 100 cổ phiếu.
In some of the securities in which we deal (but not all by any means) buying 10,000 shares is much more difficult than buying 100 and is sometimes impossible. Therefore, for a portion of our portfolio, larger sums are definitely disadvantageous. For a larger portion of the portfolio, I would say increased sums are only slightly disadvantageous. This category includes most of our work-outs and some generals.
Ở một số chứng khoán mà chúng ta giao dịch (nhưng hoàn toàn không phải tất cả), việc mua 10.000 cổ phiếu khó khăn hơn nhiều so với mua 100 cổ phiếu và đôi khi là bất khả thi. Do đó, đối với một phần danh mục của chúng ta, số tiền lớn hơn chắc chắn là bất lợi. Đối với một phần lớn hơn của danh mục, tôi cho rằng số tiền tăng thêm chỉ bất lợi đôi chút. Nhóm này bao gồm phần lớn các khoản đầu tư theo sự kiện và một số khoản đầu tư thông thường của chúng ta.
However, in the case of control situations increased funds are a definite advantage. A "Sanborn Map" cannot be accomplished without the wherewithal. My definite belief is that the opportunities increase in this field as the funds increase. This is due to the sharp fall-off in competition as the ante mounts plus the important positive correlation that exists between increased size of company and lack of concentrated ownership of that company's stock.
Tuy nhiên, trong trường hợp các tình huống kiểm soát, nguồn vốn tăng thêm là một lợi thế rõ ràng. Một thương vụ "Sanborn Map" không thể thực hiện được nếu không có đủ tiềm lực tài chính. Niềm tin chắc chắn của tôi là các cơ hội trong lĩnh vực này tăng lên khi nguồn vốn tăng lên. Điều này là do sự cạnh tranh sụt giảm mạnh khi tiền cược tăng lên, cộng với mối tương quan thuận quan trọng tồn tại giữa việc quy mô công ty tăng lên và việc cổ phiếu của công ty đó không được sở hữu tập trung.
Which is more important -- the decreasing prospects of profitability in passive investments or the increasing prospects in control investments? I can't give a definite answer to this since to a great extent it depends on the type of market in which we are operating. My present opinion is that there is no reason to think these should not be offsetting factors; if my opinion should change, you will be told. I can say, most assuredly, that our results in 1960 and 1961 would not have been better if we had been operating with the much smaller sums of 1956 and 1957.
Điều nào quan trọng hơn — triển vọng sinh lời giảm dần ở các khoản đầu tư thụ động (passive investments) hay triển vọng tăng dần ở các khoản đầu tư kiểm soát? Tôi không thể đưa ra câu trả lời dứt khoát cho câu hỏi này vì ở mức độ lớn, điều đó phụ thuộc vào loại thị trường mà chúng ta đang hoạt động. Quan điểm hiện tại của tôi là không có lý do gì để nghĩ rằng những yếu tố này lại không bù trừ cho nhau; nếu quan điểm của tôi có thay đổi, các bạn sẽ được thông báo. Tôi có thể nói, một cách hết sức chắc chắn, rằng kết quả của chúng ta trong năm 1960 và 1961 sẽ không tốt hơn nếu chúng ta hoạt động với những khoản tiền nhỏ hơn nhiều của năm 1956 và 1957.
And a Prediction
Và một dự đoán
Regular readers (I may be flattering myself) will feel I have left the tracks when I start talking about predictions. This is one thing from which I have always shied away and I still do in the normal sense.
Những độc giả thường xuyên (có thể tôi đang tự tâng bốc mình) sẽ cảm thấy tôi đã trật đường ray khi bắt đầu nói về các dự đoán. Đây là một điều mà tôi luôn né tránh, và tôi vẫn né tránh theo nghĩa thông thường.
I am certainly not going to predict what general business or the stock market are going to do in the next year or two since I don't have the faintest idea.
Tôi chắc chắn sẽ không dự đoán tình hình kinh doanh nói chung hay thị trường chứng khoán sẽ diễn biến ra sao trong một hoặc hai năm tới, vì tôi hoàn toàn không có lấy một chút ý niệm nào.
I think you can be quite sure that over the next ten years there are going to be a few years when the general market is plus 20% or 25%, a few when it is minus on the same order, and a majority when it is in between. I haven't any notion as to the sequence in which these will occur, nor do I think it is of any great importance for the long-term investor.
Tôi nghĩ các bạn có thể hoàn toàn chắc chắn rằng trong mười năm tới sẽ có một vài năm thị trường chung tăng 20% hoặc 25%, một vài năm thị trường giảm ở mức tương tự, và phần lớn số năm thị trường nằm ở khoảng giữa. Tôi hoàn toàn không biết những năm này sẽ diễn ra theo thứ tự nào, và tôi cũng không nghĩ điều đó có tầm quan trọng lớn gì đối với nhà đầu tư dài hạn.
Over any long period of years, I think it likely that the Dow will probably produce something like 5% to 7% per year compounded from a combination of dividends and market value gain. Despite the experience of recent years, anyone expecting substantially better than that from the general market probably faces disappointment.
Qua bất kỳ giai đoạn dài nhiều năm nào, tôi nghĩ nhiều khả năng chỉ số Dow có lẽ sẽ mang lại mức tăng trưởng kép khoảng 5% đến 7% mỗi năm, từ sự kết hợp giữa cổ tức và mức tăng giá trị thị trường. Bất chấp những gì đã diễn ra trong những năm gần đây, bất kỳ ai kỳ vọng thị trường chung mang lại kết quả tốt hơn đáng kể so với mức đó có lẽ sẽ phải đối mặt với sự thất vọng.
Our job is to pile up yearly advantages over the performance of the Dow without worrying too much about whether the absolute results in a given year are a plus or a minus. I would consider a year in which we were down 15% and the Dow declined 25% to be much superior to a year when both the partnership and the Dow advanced 20%. I have stressed this point in talking with partners and have watched them nod their heads with varying degrees of enthusiasm. It is most important to me that you fully understand my reasoning in this regard and agree with me not only in your cerebral regions, but also down in the pit of your stomach.
Công việc của chúng ta là tích lũy dồn những lợi thế hằng năm so với kết quả của chỉ số Dow mà không quá lo lắng về việc kết quả tuyệt đối trong một năm nhất định là dương hay âm. Tôi sẽ coi một năm mà chúng ta giảm 15% còn chỉ số Dow giảm 25% là vượt trội hơn nhiều so với một năm mà cả quỹ hợp danh lẫn chỉ số Dow đều tăng 20%. Tôi đã nhấn mạnh điểm này khi trao đổi với các thành viên và đã chứng kiến họ gật đầu với những mức độ hào hứng khác nhau. Điều quan trọng nhất đối với tôi là các bạn hiểu đầy đủ lập luận của tôi về vấn đề này và đồng ý với tôi không chỉ trong phần não bộ của các bạn, mà còn tận sâu trong ruột gan.
For the reasons outlined in my method of operation, our best years relative to the Dow are likely to be in declining or static markets. Therefore, the advantage we seek will probably come in sharply varying amounts. There are bound to be years when we are surpassed by the Dow, but if over a long period we can average ten percentage points per year better than it, I will feel the results have been satisfactory.
Vì những lý do đã nêu trong phần phương thức hoạt động của tôi, những năm tốt nhất của chúng ta so với chỉ số Dow nhiều khả năng sẽ là những năm thị trường đi xuống hoặc đi ngang. Do đó, lợi thế mà chúng ta tìm kiếm có lẽ sẽ đến với độ lớn dao động mạnh. Chắc chắn sẽ có những năm chúng ta bị chỉ số Dow vượt qua, nhưng nếu trong một thời gian dài chúng ta có thể đạt kết quả bình quân tốt hơn chỉ số này mười điểm phần trăm mỗi năm, tôi sẽ cảm thấy kết quả là thỏa đáng.
Specifically, if the market should be down 35% or 40% in a year (and I feel this has a high probability of occurring one year in the next ten--no one knows which one), we should be down only 15% or 20%. If it is more or less unchanged during the year, we would hope to be up about ten percentage points. If it is up 20% or more, we would struggle to be up as much. The consequence of performance such as this over a period of years would mean that if the Dow produces a 5% to 7% per year overall gain compounded, I would hope our results might be 15% to 17% per year.
Cụ thể, nếu thị trường có giảm 35% hoặc 40% trong một năm (và tôi cảm thấy điều này có xác suất cao sẽ xảy ra vào một năm nào đó trong mười năm tới — không ai biết là năm nào), chúng ta dự kiến sẽ chỉ giảm 15% hoặc 20%. Nếu thị trường gần như không thay đổi trong năm, chúng ta hy vọng sẽ tăng khoảng mười điểm phần trăm. Nếu thị trường tăng từ 20% trở lên, chúng ta sẽ phải chật vật mới tăng được ngang mức đó. Hệ quả của những kết quả hoạt động như vậy qua một giai đoạn nhiều năm có nghĩa là, nếu chỉ số Dow mang lại mức lãi tổng thể tăng trưởng kép 5% đến 7% mỗi năm, tôi hy vọng kết quả của chúng ta có thể đạt 15% đến 17% mỗi năm.
The above expectations may sound somewhat rash, and there is no question but that they may appear very much so when viewed from the vantage point of 1965 or 1970. It may turn out that I am completely wrong. However, I feel the partners are certainly entitled to know what I am thinking in this regard even though the nature of the business is such as to introduce a high probability of error in such expectations. In anyone year, the variations may be quite substantial. This happened in 1961, but fortunately the variation was on the pleasant side. They won't all be!
Những kỳ vọng nêu trên nghe có thể hơi liều lĩnh, và chắc chắn rằng chúng có thể trông rất liều lĩnh khi nhìn lại từ vị trí của năm 1965 hoặc 1970. Có thể hóa ra là tôi hoàn toàn sai. Tuy nhiên, tôi cảm thấy các thành viên chắc chắn có quyền được biết tôi đang nghĩ gì về vấn đề này, mặc dù bản chất của công việc này khiến những kỳ vọng như vậy có xác suất sai lầm cao. Trong bất kỳ một năm nào, mức chênh lệch có thể rất lớn. Điều này đã xảy ra vào năm 1961, nhưng may mắn là mức chênh lệch nghiêng về phía dễ chịu. Không phải năm nào cũng sẽ như thế!
Miscellaneous
Các vấn đề khác
We are now installed in an office at 810 Kiewit Plaza with a first-class secretary, Beth Henley, and an associate with considerable experience in my type of securities, Bill Scott. My father is sharing office space with us (he also shares the expenses) and doing a brokerage business in securities. None of our brokerage is done through him so we have no "vicuna coat" situation.
Hiện nay chúng ta đã yên vị tại một văn phòng ở 810 Kiewit Plaza, cùng với một thư ký hạng nhất, Beth Henley, và một cộng sự có nhiều kinh nghiệm với loại chứng khoán mà tôi theo đuổi, Bill Scott. Cha tôi dùng chung không gian văn phòng với chúng ta (ông cũng chia sẻ chi phí) và hoạt động kinh doanh môi giới chứng khoán. Không giao dịch môi giới nào của chúng ta được thực hiện thông qua ông, vì vậy chúng ta không gặp tình huống kiểu "áo khoác lông vicuna".
Overall, I expect our overhead, excluding interest on borrowings and Nebraska Intangibles Tax, to run less than 0.5 of 1% of net assets. We should get our money's worth from this expenditure, and you are most cordially invited to drop in and see how the money is being spent.
Nhìn chung, tôi dự kiến chi phí chung của chúng ta, không kể tiền lãi vay và thuế tài sản vô hình bang Nebraska (Nebraska Intangibles Tax), sẽ ở mức dưới 0,5 của 1% tài sản ròng. Chúng ta dự kiến sẽ nhận được giá trị xứng đáng với số tiền bỏ ra cho khoản chi tiêu này, và tôi xin trân trọng mời các bạn ghé qua để xem tiền đang được chi tiêu như thế nào.
With over 90 partners and probably 40 or so securities, you can understand that it is quite a welcome relief to me to shake loose from some of the details.
Với hơn 90 thành viên và có lẽ khoảng 40 chứng khoán, các bạn có thể hiểu rằng việc thoát được khỏi một số chi tiết là một sự nhẹ nhõm rất đáng hoan nghênh đối với tôi.
We presently have partners residing in locations from California to Vermont, and net assets at the beginning of 1962 amounted to $ 7,178,500.00. Susie and I have an interest in the partnership amounting to $1,025,000.00, and other relatives of mine have a combined interest totaling $782,600.00. The minimum for new partners last year was $25,000, but I am giving some thought to increasing it this year.
Hiện nay chúng ta có các thành viên cư trú ở nhiều nơi từ California đến Vermont, và tài sản ròng vào đầu năm 1962 đạt 7.178.500,00 USD. Susie và tôi có phần vốn góp trong quỹ hợp danh với số tiền 1.025.000,00 USD, và những người họ hàng khác của tôi có tổng phần vốn góp cộng lại là 782.600,00 USD. Mức tối thiểu đối với thành viên mới năm ngoái là 25.000 USD, nhưng tôi đang cân nhắc việc tăng mức này trong năm nay.
Peat, Marwick, Mitchell & Company did an excellent job of expediting the audit, providing tax figures much earlier than in the past. They assure me this performance can be continued.
Peat, Marwick, Mitchell & Company đã làm rất xuất sắc việc đẩy nhanh công tác kiểm toán, cung cấp số liệu thuế sớm hơn nhiều so với trước đây. Họ cam đoan với tôi rằng kết quả làm việc này có thể được duy trì.
Let me hear from you regarding questions you may have on any aspects of this letter, your audit, status of your partnership interest, etc. that may puzzle you.
Hãy cho tôi biết các câu hỏi mà các bạn có thể có về bất kỳ khía cạnh nào của lá thư này, về kết quả kiểm toán của các bạn, tình trạng phần vốn góp của các bạn trong quỹ hợp danh, v.v. mà có thể khiến các bạn băn khoăn.
Cordially Warren E. Buffett.
Thân ái, Warren E. Buffett.
APPENDIX
PHỤ LỤC
Partnerships Operating Throughout 1961
Các quỹ hợp danh hoạt động suốt năm 1961
Partnership 1/1/61 Capital at Overall Gain in 1961* Percentage Gain
Market
Buffett Associates 486,874.27 225,387.80 46.3%
Buffett Fund 351,839.29 159,696.93 45.4%
Dacee 235,480.31 116,504.47 49.5%
Emdee 140,005.24 67,387.28 48.1%
Glenoff 78,482.70 39,693.80 50.5%
Mo-Buff 325,844.71 149,163.71 45.8%
Underwood 582,256.82 251,951.26 43.3%
2,200,783.34 1,009,785.25 45.9%
Partnerships Started in 1961
Partnership Paid-in Overall Gain in 1961 Percentage Gain
Ann Investments 100,100 (1-30-61) 35,367.93 35.3%
Buffett-TD 250,100 ($200,100 on 3-8- 70,294.08 28.1%
61, $50,000 on 5-31-61)
Buffett-Holland 125,100 (5-17-61) 16,703.76 13.3%
Quỹ hợp danh Vốn ngày 1/1/61 Lãi tổng thể năm 1961* Tỷ lệ lãi
theo giá thị trường
Buffett Associates 486.874,27 225.387,80 46,3%
Buffett Fund 351.839,29 159.696,93 45,4%
Dacee 235.480,31 116.504,47 49,5%
Emdee 140.005,24 67.387,28 48,1%
Glenoff 78.482,70 39.693,80 50,5%
Mo-Buff 325.844,71 149.163,71 45,8%
Underwood 582.256,82 251.951,26 43,3%
2.200.783,34 1.009.785,25 45,9%
Các quỹ hợp danh thành lập trong năm 1961
Quỹ hợp danh Vốn đã góp Lãi tổng thể năm 1961 Tỷ lệ lãi
Ann Investments 100.100 (30-1-61) 35.367,93 35,3%
Buffett-TD 250.100 ($200.100 ngày 8-3- 70.294,08 28,1%
61, $50.000 ngày 31-5-61)
Buffett-Holland 125.100 (17-5-61) 16.703,76 13,3%
* Gain in net assets at market values plus payments to limited partners during year.
* Mức tăng tài sản ròng theo giá trị thị trường cộng các khoản chi trả cho thành viên góp vốn trong năm.
Nhận bài mới qua email
Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.
Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.