Bỏ qua menu, tới nội dung
Học đầu tư giá trị cùng Buffett & MungerCủ khoai tây lười động đậy

Thư cổ đôngBuffett

Thư Buffett Partnership năm 1960

Dow mất 6,3%, bảy quỹ lãi 22,8%, Buffett kể trọn chuyện Sanborn Map, khoản đầu tư từng chiếm 35% tài sản quỹ và kết thúc trong năm 1960.

Buffett Partnership, Ltd., năm 1960. Bản dịch của Khoai Lười, đăng

Dịch từ bản gốc tại archive.org, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: bản sưu tập Internet Archive (archive.org), không phải trang chính chủ.

Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.

The General Stock Market in 1960:

Thị trường chứng khoán chung trong năm 1960:

A year ago, I commented on the somewhat faulty picture presented in 1959 by the Dow-Jones Industrial Average which had advanced from 583 to 679, or 16.4%. Although practically all investment companies showed gains for that year, less than 10% of them were able to match or better the record of the Industrial Average. The Dow-Jones Utility Average had a small decline and the Railroad Average recorded a substantial one.

Một năm trước, tôi đã bình luận về bức tranh có phần sai lệch mà chỉ số Dow-Jones công nghiệp (Dow-Jones Industrial Average) đưa ra trong năm 1959, khi chỉ số này đã tăng từ 583 lên 679, tức 16,4%. Mặc dù gần như tất cả các công ty đầu tư (investment companies) đều có lãi trong năm đó, chưa đến 10% trong số đó có thể theo kịp hoặc vượt được thành tích của chỉ số Dow công nghiệp. Chỉ số Dow-Jones ngành tiện ích (Utility Average) có một mức giảm nhỏ, còn chỉ số Dow-Jones ngành đường sắt (Railroad Average) ghi nhận một mức giảm đáng kể.

In 1960, the picture was reversed. The Industrial Average declined from 679 to 616, or 9.3%. Adding back the dividends which would have been received through ownership of the Average still left it with an overall loss of 6.3%. On the other hand, the Utility Average showed a good gain and, while all the results are not now available, my guess is that about 90% of all investment companies outperformed the Industrial Average. The majority of investment companies appear to have ended the year with overall results in the range of plus or minus 5%. On the New York Stock Exchange, 653 common stocks registered losses for the year while 404 showed gains.

Năm 1960, bức tranh đã đảo ngược. Chỉ số Dow công nghiệp giảm từ 679 xuống 616, tức 9,3%. Cộng lại phần cổ tức sẽ nhận được nhờ sở hữu chỉ số bình quân này thì chỉ số vẫn chịu mức lỗ tổng thể 6,3%. Mặt khác, chỉ số ngành tiện ích có mức tăng tốt và, dù hiện chưa có đầy đủ mọi kết quả, tôi đoán rằng khoảng 90% tất cả các công ty đầu tư đã đạt kết quả tốt hơn chỉ số Dow công nghiệp. Phần lớn các công ty đầu tư dường như đã kết thúc năm với kết quả tổng thể trong khoảng cộng hoặc trừ 5%. Trên Sở Giao dịch Chứng khoán New York (New York Stock Exchange), 653 cổ phiếu phổ thông (common stocks) ghi nhận mức giảm trong năm, trong khi 404 cổ phiếu ghi nhận mức tăng.

Results in 1960:

Kết quả năm 1960:

My continual objective in managing partnership funds is to achieve a long-term performance record superior to that of the Industrial Average. I believe this Average, over a period of years, will more or less parallel the results of leading investment companies. Unless we do achieve this superior performance there is no reason for existence of the partnerships.

Mục tiêu xuyên suốt của tôi trong việc quản lý vốn của các quỹ hợp danh là đạt được một thành tích dài hạn vượt trội so với thành tích của chỉ số Dow công nghiệp. Tôi tin rằng, qua một giai đoạn nhiều năm, chỉ số bình quân này sẽ ít nhiều đi song song với kết quả của các công ty đầu tư hàng đầu. Trừ khi chúng ta thực sự đạt được kết quả vượt trội này, các quỹ hợp danh không có lý do gì để tồn tại.

However, I have pointed out that any superior record which we might accomplish should not be expected to be evidenced by a relatively constant advantage in performance compared to the Average. Rather it is likely that if such an advantage is achieved, it will be through better-than-average performance in stable or declining markets and average, or perhaps even poorer- than-average performance in rising markets.

Tuy nhiên, tôi đã chỉ ra rằng không nên kỳ vọng bất kỳ thành tích vượt trội nào mà chúng ta có thể đạt được sẽ được thể hiện qua một lợi thế tương đối đều đặn về kết quả so với chỉ số bình quân. Đúng hơn, nhiều khả năng là nếu đạt được một lợi thế như vậy, lợi thế đó sẽ đến từ kết quả tốt hơn mức trung bình trong các thị trường ổn định hoặc đi xuống, và kết quả ở mức trung bình, hoặc thậm chí có lẽ kém hơn mức trung bình, trong các thị trường đi lên.

I would consider a year in which we declined 15% and the Average 30% to be much superior to a year when both we and the Average advanced 20%. Over a period of time there are going to be good and bad years; there is nothing to be gained by getting enthused or depressed about the sequence in which they occur. The important thing is to be beating par; a four on a par three hole is not as good as a five on a par five hole and it is unrealistic to assume we are not going to have our share of both par three's and par five's.

Tôi sẽ coi một năm mà chúng ta giảm 15% còn chỉ số bình quân giảm 30% là vượt trội hơn nhiều so với một năm mà cả chúng ta lẫn chỉ số bình quân đều tăng 20%. Qua một khoảng thời gian, sẽ có những năm tốt và những năm xấu; chẳng được gì khi hào hứng hay chán nản về thứ tự xuất hiện của chúng. Điều quan trọng là đánh tốt hơn điểm chuẩn (par); đánh bốn gậy ở hố par 3 không tốt bằng đánh năm gậy ở hố par 5, và thật thiếu thực tế khi cho rằng chúng ta sẽ không phải nhận phần của mình ở cả các hố par 3 lẫn các hố par 5.

The above dose of philosophy is being dispensed since we have a number of new partners this year and I want to make sure they understand my objectives, my measure of attainment of these objectives, and some of my known limitations.

Liều triết lý ở trên được kê ra vì năm nay chúng ta có một số thành viên mới và tôi muốn chắc chắn rằng họ hiểu các mục tiêu của tôi, thước đo của tôi về việc đạt được các mục tiêu này, và một số hạn chế đã biết của tôi.

With this background it is not unexpected that 1960 was a better-than-average year for us. As contrasted with an overall loss of 6.3% for the Industrial Average, we had a 22.8% gain for the seven partnerships operating throughout the year. Our results for the four complete years of partnership operation after expenses but before interest to limited partners or allocation to the general partner are:

Với bối cảnh này, không có gì bất ngờ khi năm 1960 là một năm tốt hơn mức trung bình đối với chúng ta. Trái ngược với mức lỗ tổng thể 6,3% của chỉ số Dow công nghiệp, chúng ta đạt mức lãi 22,8% đối với bảy quỹ hợp danh hoạt động suốt cả năm. Kết quả của chúng ta trong bốn năm hoạt động trọn vẹn của các quỹ hợp danh, sau chi phí nhưng trước tiền lãi trả cho các thành viên góp vốn (limited partners) hay phần phân bổ cho thành viên hợp danh (general partner), như sau:

   Year         Partnerships Operating Entire Year              Partnership Gain          Dow-Jones Gain
   1957                         3                                    10.4%                    -8.4%
   1958                         5                                    40.9%                    38.5%
   1959                            6                                 25.9%                    19.9%
   1960                            7                                 22.8%                    -6.3%
   Năm          Số quỹ hợp danh hoạt động cả năm                Lãi của quỹ hợp danh      Lãi của Dow-Jones
   1957                         3                                       10,4%                   -8,4%
   1958                         5                                       40,9%                   38,5%
   1959                         6                                       25,9%                   19,9%
   1960                         7                                       22,8%                   -6,3%

It should be emphasized again that these are the net results to the partnership; the net results to the limited partners would depend on the partnership agreement that they had selected.

Cần nhấn mạnh một lần nữa rằng đây là kết quả ròng đối với quỹ hợp danh; kết quả ròng đối với các thành viên góp vốn sẽ tùy thuộc vào thỏa thuận hợp danh (partnership agreement) mà họ đã lựa chọn.

The overall gain or loss is computed on a market to market basis. After allowing for any money added or withdrawn, such a method gives results based upon what would have been realized upon liquidation of the partnership at the beginning, of the year and what would have been realized upon liquidation at year end and is different, of course, from our tax results, which value securities at cost and realize gains or losses only when securities are actually sold.

Mức lãi hoặc lỗ tổng thể được tính trên cơ sở đánh giá theo giá thị trường (market to market). Sau khi điều chỉnh cho mọi khoản tiền được góp thêm hoặc rút ra, phương pháp này cho ra kết quả dựa trên số tiền sẽ thu được nếu thanh lý quỹ hợp danh vào đầu năm và số tiền sẽ thu được nếu thanh lý vào cuối năm, và dĩ nhiên khác với kết quả tính thuế của chúng ta, vốn ghi nhận chứng khoán theo giá gốc và chỉ ghi nhận lãi hoặc lỗ khi chứng khoán thực sự được bán ra.

On a compounded basis, the cumulative results have been:

Tính theo lãi kép, kết quả lũy kế như sau:

              Year                          Partnership Gain                      Dow-Jones Gain
              1957                               10.4%                                -8.4%
              1958                               55.6%                                26.9%
              1959                               95.9%                                52.2%
              1960                               140.6%                               42.6%
              Năm                         Lãi của quỹ hợp danh                  Lãi của Dow-Jones
              1957                               10,4%                                -8,4%
              1958                               55,6%                                26,9%
              1959                               95,9%                                52,2%
              1960                               140,6%                               42,6%

Although four years is entirely too short a period from which to make deductions, what evidence there is points toward confirming the proposition that our results should be relatively better in moderately declining or static markets. To the extent that this is true, it indicates that our portfolio may be more conservatively, although decidedly less conventionally, invested than if we owned "blue-chip" securities. During a strongly rising market for the latter, we might have real difficulty in matching their performance.

Mặc dù bốn năm hoàn toàn là một khoảng thời gian quá ngắn để rút ra kết luận, những bằng chứng hiện có hướng tới việc xác nhận nhận định rằng kết quả của chúng ta dự kiến sẽ tương đối tốt hơn trong các thị trường giảm vừa phải hoặc đi ngang. Trong chừng mực điều này là đúng, điều đó cho thấy danh mục của chúng ta có thể được đầu tư một cách thận trọng hơn, dù rõ ràng là ít theo thông lệ hơn, so với nếu chúng ta sở hữu các chứng khoán "blue-chip". Trong một thị trường tăng mạnh của nhóm chứng khoán sau, chúng ta có thể thực sự gặp khó khăn trong việc theo kịp kết quả của chúng.

Multiplicity of Partnerships:

Tình trạng nhiều quỹ hợp danh:

A preceding table shows that the family is growing. There has been no partnership which has had a consistently superior or inferior record compared to our group average, but there has been some variance each year despite my efforts to "keep all partnerships invested in the same securities and in about the same proportions. This variation, of course, could be eliminated by combining the present partnerships into one large partnership. Such a move would also eliminate much detail and a moderate amount of expense.

Một bảng ở phần trên cho thấy gia đình đang lớn dần. Chưa có quỹ hợp danh nào có thành tích liên tục vượt trội hay kém hơn so với mức trung bình của cả nhóm, nhưng mỗi năm vẫn có một số chênh lệch, bất chấp nỗ lực của tôi nhằm "giữ cho tất cả các quỹ hợp danh đầu tư vào cùng các chứng khoán và với tỷ trọng xấp xỉ như nhau". Dĩ nhiên, sự chênh lệch này có thể được loại bỏ bằng cách hợp nhất các quỹ hợp danh hiện tại thành một quỹ hợp danh lớn. Một động thái như vậy cũng sẽ loại bỏ được nhiều công việc chi tiết và một khoản chi phí ở mức vừa phải.

Frankly, I am hopeful of doing something along this line in the next few years. The problem is that various partners have expressed preferences for varying partnership arrangements. Nothing will be done without unanimous consent of partners.

Thẳng thắn mà nói, tôi hy vọng sẽ làm được điều gì đó theo hướng này trong vài năm tới. Vấn đề là các thành viên khác nhau đã bày tỏ mong muốn đối với những phương án hợp danh khác nhau. Sẽ không có gì được thực hiện nếu không có sự đồng thuận nhất trí của các thành viên.

Advance Payments:

Khoản góp vốn trước hạn (Advance Payments):

Several partners have inquired about adding money during the year to their partnership. Although an exception has been made, it is too difficult to amend partnership agreements during mid-year where we have more than one family represented among the limited partners. Therefore, in mixed partnerships an additional interest can only be acquired at the end of the year.

Một số thành viên đã hỏi về việc góp thêm tiền vào quỹ hợp danh của mình trong năm. Mặc dù đã có một trường hợp ngoại lệ, việc sửa đổi thỏa thuận hợp danh vào giữa năm là quá khó khăn ở những quỹ mà trong số các thành viên góp vốn có hơn một gia đình. Vì vậy, ở các quỹ hợp danh hỗn hợp, chỉ có thể mua thêm phần vốn góp vào cuối năm.

We do accept advance payments during the year toward a partnership interest and pay interest at 6% on this payment from the time received until the end of the year. At that time, subject to amendment of the agreement by the partners, the payment plus interest is added to the partnership capital and thereafter participates in profits and losses.

Chúng tôi có nhận các khoản góp vốn trước hạn trong năm để mua phần vốn góp (partnership interest) và trả lãi 6% trên khoản tiền này từ lúc nhận cho đến cuối năm. Vào thời điểm đó, tùy thuộc vào việc các thành viên sửa đổi thỏa thuận, khoản tiền này cộng với tiền lãi sẽ được đưa vào vốn của quỹ hợp danh và từ đó trở đi được tham gia vào lãi và lỗ.

Last year mention was made of an investment which accounted for a very high and unusual proportion (35%) of our net assets along with the comment that I had some hope this investment would be concluded in 1960. This hope materialized. The history of an investment of this magnitude may be of interest to you.

Năm ngoái, tôi đã đề cập đến một khoản đầu tư chiếm một tỷ trọng rất cao và bất thường (35%) trong tài sản ròng (net assets) của chúng ta, kèm theo nhận xét rằng tôi có phần hy vọng khoản đầu tư này sẽ kết thúc trong năm 1960. Hy vọng này đã thành hiện thực. Diễn biến của một khoản đầu tư có quy mô như thế này có thể sẽ khiến các bạn quan tâm.

Sanborn Map Co. is engaged in the publication and continuous revision of extremely detailed maps of all cities of the United States. For example, the volumes mapping Omaha would weigh perhaps fifty pounds and provide minute details on each structure. The map would be revised by the paste-over method showing new construction, changed occupancy, new fire protection facilities, changed structural materials, etc. These revisions would be done approximately annually and a new map would be published every twenty or thirty years when further pasteovers became impractical. The cost of keeping the map revised to an Omaha customer would run around $100 per year.

Sanborn Map Co. hoạt động trong lĩnh vực xuất bản và liên tục hiệu chỉnh các bản đồ cực kỳ chi tiết của tất cả các thành phố của Hoa Kỳ. Ví dụ, các tập bản đồ về Omaha có lẽ nặng tới năm mươi pound và cung cấp những chi tiết tỉ mỉ về từng công trình. Bản đồ được hiệu chỉnh bằng phương pháp dán đè, thể hiện các công trình xây mới, thay đổi về mục đích sử dụng, các thiết bị phòng cháy chữa cháy mới, thay đổi về vật liệu kết cấu, v.v. Những lần hiệu chỉnh này được thực hiện khoảng mỗi năm một lần và một bản đồ mới được xuất bản cứ hai mươi hoặc ba mươi năm một lần, khi việc dán đè thêm không còn khả thi. Chi phí để duy trì việc hiệu chỉnh bản đồ đối với một khách hàng ở Omaha vào khoảng 100 USD mỗi năm.

This detailed information showing diameter of water mains underlying streets, location of fire hydrants, composition of roof, etc., was primarily of use to fire insurance companies. Their underwriting departments, located in a central office, could evaluate business by agents nationally. The theory was that a picture was worth a thousand words and such evaluation would decide whether the risk was properly rated, the degree of conflagration exposure in an area, advisable reinsurance procedure, etc. The bulk of Sanborn's business was done with about thirty insurance companies although maps were also sold to customers outside the insurance industry such as public utilities, mortgage companies, and taxing authorities.

Những thông tin chi tiết này, thể hiện đường kính các đường ống cấp nước chính nằm dưới lòng đường, vị trí các trụ nước chữa cháy, cấu tạo mái nhà, v.v., chủ yếu hữu ích cho các công ty bảo hiểm cháy. Các phòng nghiệp vụ bảo hiểm (underwriting) của họ, đặt tại một văn phòng trung tâm, có thể đánh giá các hợp đồng do đại lý khai thác trên khắp cả nước. Lý thuyết là một bức tranh đáng giá ngàn lời nói, và việc đánh giá như vậy sẽ quyết định xem rủi ro có được định phí đúng mức hay không, mức độ rủi ro cháy lan diện rộng (conflagration exposure) trong một khu vực, quy trình tái bảo hiểm (reinsurance) nên áp dụng, v.v. Phần lớn hoạt động kinh doanh của Sanborn được thực hiện với khoảng ba mươi công ty bảo hiểm, mặc dù bản đồ cũng được bán cho các khách hàng ngoài ngành bảo hiểm như các công ty tiện ích công cộng, các công ty cho vay thế chấp và các cơ quan thuế.

For seventy-five years the business operated in a more or less monopolistic manner, with profits realized in every year accompanied by almost complete immunity to recession and lack of need for any sales effort. In the earlier years of the business, the insurance industry became fearful that Sanborn's profits would become too great and placed a number of prominent insurance men on Sanborn's board of directors to act in a watch-dog capacity.

Trong bảy mươi lăm năm, doanh nghiệp này hoạt động theo kiểu ít nhiều mang tính độc quyền, năm nào cũng có lợi nhuận, kèm theo khả năng gần như hoàn toàn miễn nhiễm với suy thoái và không cần bất kỳ nỗ lực bán hàng nào. Trong những năm đầu hoạt động của doanh nghiệp, ngành bảo hiểm trở nên lo ngại rằng lợi nhuận của Sanborn sẽ trở nên quá lớn và đã đưa một số nhân vật nổi bật trong ngành bảo hiểm vào hội đồng quản trị của Sanborn để đóng vai trò canh chừng.

In the early 1950’s a competitive method of under-writing known as "carding" made inroads on Sanborn’s business and after-tax profits of the map business fell from an average annual level of over $500,000 in the late 1930's to under $100,000 in 1958 and 1959. Considering the upward bias in the economy during this period, this amounted to an almost complete elimination of what had been sizable, stable earning power.

Vào đầu thập niên 1950, một phương pháp đánh giá rủi ro nhận bảo hiểm mang tính cạnh tranh được gọi là "lập thẻ" ("carding") đã lấn dần vào hoạt động kinh doanh của Sanborn, và lợi nhuận sau thuế của mảng kinh doanh bản đồ đã giảm từ mức bình quân hằng năm hơn 500.000 USD vào cuối thập niên 1930 xuống dưới 100.000 USD trong các năm 1958 và 1959. Xét đến xu hướng đi lên của nền kinh tế trong giai đoạn này, điều này gần như tương đương với việc xóa sổ hoàn toàn khả năng sinh lời (earning power) vốn từng lớn và ổn định.

However, during the early 1930's Sanborn had begun to accumulate an investment portfolio. There were no capital requirements to the business so that any retained earnings could be devoted to this project. Over a period of time, about $2.5 million was invested, roughly half in bonds and half in stocks. Thus, in the last decade particularly, the investment portfolio blossomed while the operating map business wilted.

Tuy nhiên, trong những năm đầu thập niên 1930, Sanborn đã bắt đầu tích lũy một danh mục đầu tư. Hoạt động kinh doanh không có nhu cầu vốn, nên mọi khoản lợi nhuận giữ lại (retained earnings) đều có thể được dành cho dự án này. Qua một thời gian, khoảng 2,5 triệu USD đã được đầu tư, đại khái một nửa vào trái phiếu và một nửa vào cổ phiếu. Vì vậy, đặc biệt là trong thập kỷ vừa qua, danh mục đầu tư nở rộ trong khi mảng hoạt động kinh doanh bản đồ lại héo úa.

Let me give you some idea of the extreme divergence of these two factors. In 1938 when the Dow-Jones Industrial Average was in the 100-120 range, Sanborn sold at $110 per share. In 1958 with the Average in the 550 area, Sanborn sold at $45 per share. Yet during that same period the value of the Sanborn investment portfolio increased from about $20 per share to $65 per share. This means, in effect, that the buyer of Sanborn stock in 1938 was placing a positive valuation of $90 per share on the map business ($110 less the $20 value of the investments unrelated to the map business) in a year of depressed business and stock market conditions. In the tremendously more vigorous climate of 1958 the same map business was evaluated at a minus $20 with the buyer of the stock unwilling to pay more than 70 cents on the dollar for the investment portfolio with the map business thrown in for nothing.

Tôi xin cho các bạn hình dung phần nào về sự phân kỳ cực độ của hai yếu tố này. Năm 1938, khi chỉ số Dow-Jones công nghiệp ở trong khoảng 100-120, Sanborn được bán ở giá 110 USD mỗi cổ phiếu. Năm 1958, khi chỉ số bình quân ở quanh mức 550, Sanborn được bán ở giá 45 USD mỗi cổ phiếu. Thế nhưng trong cùng khoảng thời gian đó, giá trị danh mục đầu tư của Sanborn đã tăng từ khoảng 20 USD mỗi cổ phiếu lên 65 USD mỗi cổ phiếu. Trên thực tế, điều này có nghĩa là người mua cổ phiếu Sanborn vào năm 1938 đã định giá dương 90 USD mỗi cổ phiếu cho mảng kinh doanh bản đồ (110 USD trừ đi 20 USD giá trị của các khoản đầu tư không liên quan đến mảng kinh doanh bản đồ) trong một năm mà tình hình kinh doanh và thị trường chứng khoán đều ảm đạm. Trong bầu không khí sôi động hơn rất nhiều của năm 1958, cũng chính mảng kinh doanh bản đồ đó lại được định giá ở mức âm 20 USD, khi người mua cổ phiếu không sẵn lòng trả quá 70 xu trên mỗi đô la giá trị của danh mục đầu tư, còn mảng kinh doanh bản đồ thì được tặng kèm miễn phí.

How could this come about? Sanborn in 1958 as well as 1938 possessed a wealth of information of substantial value to the insurance industry. To reproduce the detailed information they had gathered over the years would have cost tens of millions of dollars. Despite “carding” over $500 million of fire premiums were underwritten by “mapping” companies. However, the means of selling and packaging Sanborn’s product, information had remained unchanged throughout the year and finally this inertia was reflected in the earnings.

Làm sao điều này có thể xảy ra? Sanborn vào năm 1958 cũng như năm 1938 đều sở hữu một kho thông tin dồi dào có giá trị đáng kể đối với ngành bảo hiểm. Để tái tạo lại những thông tin chi tiết mà họ đã thu thập qua nhiều năm sẽ tốn hàng chục triệu đô la. Bất chấp phương pháp “lập thẻ”, các công ty “dùng bản đồ” vẫn nhận bảo hiểm với tổng phí bảo hiểm cháy hơn 500 triệu USD. Tuy nhiên, phương thức bán và đóng gói sản phẩm của Sanborn, tức thông tin, vẫn không thay đổi suốt năm, và cuối cùng sức ì này đã phản ánh vào lợi nhuận.

The very fact that the investment portfolio had done so well served to minimize in the eyes of most directors the need for rejuvenation of the map business. Sanborn had a sales volume of about $2 million per year and owned about $7 million worth of marketable securities. The income from the investment portfolio was substantial, the business had no possible financial worries, the insurance companies were satisfied with the price paid for maps, and the stockholders still received dividends. However, these dividends were cut five times in eight years although I could never find any record of suggestions pertaining to cutting salaries or director's and committee fees.

Chính việc danh mục đầu tư hoạt động quá tốt đã khiến nhu cầu làm mới mảng kinh doanh bản đồ bị xem nhẹ trong mắt phần lớn các thành viên hội đồng quản trị. Sanborn có doanh số khoảng 2 triệu USD mỗi năm và sở hữu lượng chứng khoán khả mại (marketable securities) trị giá khoảng 7 triệu USD. Thu nhập từ danh mục đầu tư là đáng kể, doanh nghiệp không thể có bất kỳ mối lo nào về tài chính, các công ty bảo hiểm hài lòng với mức giá phải trả cho bản đồ, và các cổ đông vẫn nhận được cổ tức. Tuy nhiên, số cổ tức này đã bị cắt giảm năm lần trong tám năm, mặc dù tôi chưa bao giờ tìm thấy bất kỳ ghi chép nào về các đề xuất liên quan đến việc cắt giảm lương hay thù lao của thành viên hội đồng quản trị và của các ủy ban.

Prior to my entry on the Board, of the fourteen directors, nine were prominent men from the insurance industry who combined held 46 shares of stock out of 105,000 shares outstanding. Despite their top positions with very large companies which would suggest the financial wherewithal to make at least a modest commitment, the largest holding in this group was ten shares. In several cases, the insurance companies these men ran owned small blocks of stock but these were token investments in relation to the portfolios in which they were held. For the past decade the insurance companies had been only sellers in any transactions involving Sanborn stock.

Trước khi tôi tham gia Hội đồng quản trị, trong số mười bốn thành viên hội đồng quản trị, có chín người là những nhân vật nổi bật của ngành bảo hiểm, cộng lại nắm giữ 46 cổ phiếu trong tổng số 105.000 cổ phiếu đang lưu hành. Mặc dù họ giữ những vị trí cao nhất tại các công ty rất lớn, điều cho thấy họ có đủ tiềm lực tài chính để thực hiện ít nhất một khoản đầu tư khiêm tốn, khoản nắm giữ lớn nhất trong nhóm này là mười cổ phiếu. Trong một số trường hợp, các công ty bảo hiểm do những người này điều hành có sở hữu những lô cổ phiếu nhỏ, nhưng đó là những khoản đầu tư mang tính tượng trưng so với các danh mục đầu tư chứa chúng. Trong thập kỷ vừa qua, các công ty bảo hiểm chỉ đóng vai trò người bán trong mọi giao dịch liên quan đến cổ phiếu Sanborn.

The tenth director was the company attorney, who held ten shares. The eleventh was a banker with ten shares who recognized the problems of the company, actively pointed them out, and later added to his holdings. The next two directors were the top officers of Sanborn who owned about 300 shares combined. The officers were capable, aware of the problems of the business, but kept in a subservient role by the Board of Directors. The final member of our cast was a son of a deceased president of Sanborn. The widow owned about 15,000 shares of stock.

Thành viên hội đồng quản trị thứ mười là luật sư của công ty, nắm giữ mười cổ phiếu. Người thứ mười một là một nhà ngân hàng có mười cổ phiếu, người đã nhận ra các vấn đề của công ty, tích cực chỉ ra các vấn đề đó, và sau đó đã mua thêm cổ phiếu. Hai thành viên hội đồng quản trị tiếp theo là những người điều hành cao nhất của Sanborn, cộng lại sở hữu khoảng 300 cổ phiếu. Những người điều hành này có năng lực, nhận thức được các vấn đề của doanh nghiệp, nhưng bị Hội đồng quản trị giữ ở vai trò lệ thuộc. Thành viên cuối cùng trong dàn diễn viên của chúng ta là con trai của một cố tổng giám đốc của Sanborn. Bà quả phụ sở hữu khoảng 15.000 cổ phiếu.

In late 1958, the son, unhappy with the trend of the business, demanded the top position in the company, was turned down, and submitted his resignation, which was accepted. Shortly thereafter we made a bid to his mother for her block of stock, which was accepted. At the time there were two other large holdings, one of about 10,000 shares (dispersed among customers of a brokerage firm) and one of about 8,000. These people were quite unhappy with the situation and desired a separation of the investment portfolio from the map business, as did we.

Cuối năm 1958, người con trai, không hài lòng với xu hướng của doanh nghiệp, đã đòi vị trí cao nhất trong công ty, bị từ chối, và nộp đơn từ chức, đơn này đã được chấp thuận. Ngay sau đó, chúng ta đưa ra đề nghị mua lô cổ phiếu của mẹ anh ta, và đề nghị này đã được chấp nhận. Vào thời điểm đó còn có hai khối nắm giữ lớn khác, một khối khoảng 10.000 cổ phiếu (phân tán trong số khách hàng của một công ty môi giới) và một khối khoảng 8.000 cổ phiếu. Những người này rất không hài lòng với tình hình và mong muốn tách danh mục đầu tư khỏi mảng kinh doanh bản đồ, chúng ta cũng vậy.

Subsequently our holdings (including associates) were increased through open market purchases to about 24,000 shares and the total represented by the three groups increased to 46,000 shares. We hoped to separate the two businesses, realize the fair value of the investment portfolio and work to re-establish the earning power of the map business. There appeared to be a real opportunity to multiply map profits through utilization of Sanborn's wealth of raw material in conjunction with electronic means of converting this data to the most usable form for the customer.

Sau đó, lượng cổ phiếu nắm giữ của chúng ta (bao gồm cả những người liên kết) được nâng lên khoảng 24.000 cổ phiếu thông qua các giao dịch mua trên thị trường, và tổng số cổ phiếu do ba nhóm nắm giữ tăng lên 46.000 cổ phiếu. Chúng ta hy vọng tách hai mảng kinh doanh, hiện thực hóa giá trị hợp lý (fair value) của danh mục đầu tư và nỗ lực khôi phục khả năng sinh lời của mảng kinh doanh bản đồ. Dường như có một cơ hội thực sự để nhân bội lợi nhuận từ bản đồ thông qua việc tận dụng kho nguyên liệu thô dồi dào của Sanborn kết hợp với các phương tiện điện tử để chuyển đổi dữ liệu này sang dạng hữu dụng nhất cho khách hàng.

There was considerable opposition on the Board to change of any type, particularly when initiated by an outsider, although management was in complete accord with our plan and a similar plan had been recommended by Booz, Allen & Hamilton (Management Experts). To avoid a proxy fight (which very probably would not have been forthcoming and which we would have been certain of winning) and to avoid time delay with a large portion of Sanborn’s money tied up in blue-chip stocks which I didn’t care for at current prices, a plan was evolved taking out all stockholders at fair value who wanted out. The SEC ruled favorably on the fairness of the plan. About 72% of the Sanborn stock, involving 50% of the 1,600 stockholders, was exchanged for portfolio securities at fair value. The map business was left with over $l,25 million in government and municipal bonds as a reserve fund, and a potential corporate capital gains tax of over $1 million was eliminated. The remaining stockholders were left with a slightly improved asset value, substantially higher earnings per share, and an increased dividend rate.

Trong Hội đồng quản trị có sự phản đối đáng kể đối với bất kỳ loại thay đổi nào, đặc biệt là khi do một người ngoài khởi xướng, mặc dù ban điều hành hoàn toàn đồng tình với kế hoạch của chúng ta và một kế hoạch tương tự đã từng được Booz, Allen & Hamilton (Chuyên gia Quản lý) khuyến nghị. Để tránh một cuộc chiến ủy quyền biểu quyết (proxy fight) (điều rất có thể đã không xảy ra và là cuộc chiến mà chúng ta chắc chắn sẽ thắng) và để tránh chậm trễ về thời gian trong khi một phần lớn tiền của Sanborn đang bị giam trong các cổ phiếu blue-chip mà tôi không mặn mà ở mức giá hiện tại, một kế hoạch đã được xây dựng nhằm giúp tất cả các cổ đông muốn rút lui được rút lui theo giá trị hợp lý. Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ (SEC) đã kết luận theo hướng thuận lợi về tính công bằng của kế hoạch. Khoảng 72% số cổ phiếu Sanborn, liên quan đến 50% trong số 1.600 cổ đông, đã được hoán đổi lấy chứng khoán trong danh mục đầu tư theo giá trị hợp lý. Mảng kinh doanh bản đồ được giữ lại hơn 1,25 triệu USD trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương (municipal bonds) làm quỹ dự trữ, và một khoản thuế lãi vốn (capital gains) tiềm tàng ở cấp doanh nghiệp hơn 1 triệu USD đã được loại bỏ. Các cổ đông còn lại có được giá trị tài sản cải thiện đôi chút, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (earnings per share) cao hơn đáng kể, và mức chi trả cổ tức tăng lên.

Necessarily, the above little melodrama is a very abbreviated description of this investment operation. However, it does point up the necessity for secrecy regarding our portfolio operations as well as the futility of measuring our results over a short span of time such as a year. Such control situations may occur very infrequently. Our bread-and-butter business is buying undervalued securities and selling when the undervaluation is corrected along with investment in special situations where the profit is dependent on corporate rather than market action. To the extent that partnership funds continue to grow, it is possible that more opportunities will be available in “control situations.”

Vở kịch nhỏ đầy kịch tính ở trên tất yếu chỉ là một mô tả rất vắn tắt về thương vụ đầu tư này. Tuy nhiên, câu chuyện này thực sự cho thấy sự cần thiết phải giữ bí mật về các hoạt động liên quan đến danh mục của chúng ta, cũng như sự vô ích của việc đánh giá kết quả của chúng ta trong một khoảng thời gian ngắn như một năm. Những tình huống kiểm soát (control situations) như vậy có thể rất hiếm khi xảy ra. Công việc kinh doanh cơm áo hằng ngày của chúng ta là mua các chứng khoán bị định giá thấp và bán ra khi tình trạng định giá thấp đã được điều chỉnh, cùng với đầu tư vào các tình huống đặc biệt (special situations), nơi lợi nhuận phụ thuộc vào hành động của doanh nghiệp thay vì diễn biến của thị trường. Trong chừng mực vốn của các quỹ hợp danh tiếp tục tăng, có thể sẽ có thêm nhiều cơ hội trong các “tình huống kiểm soát.”

The auditors should be mailing your financial statement and tax information within about a week. If you have any questions at all regarding either their report or this letter, be sure to let me know.

Các kiểm toán viên dự kiến sẽ gửi qua bưu điện báo cáo tài chính và thông tin thuế của các bạn trong vòng khoảng một tuần. Nếu các bạn có bất kỳ câu hỏi nào về báo cáo của họ hoặc về lá thư này, xin hãy nhớ cho tôi biết.

Warren E. Buffett 1-30-61

Warren E. Buffett 30-1-61

Nhận bài mới qua email

Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.

Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.

Gymnopédie No. 1Erik Satie