Thư cổ đông Berkshire Hathaway năm 1972
Lợi nhuận hoạt động 11.116.256 USD, bằng 19,8% vốn đầu năm, cao nhất từ khi ban quản lý nắm quyền tháng 5/1965, phần lớn nhờ lãi nghiệp vụ bảo hiểm.
Dịch từ bản gốc tại archive.org, phục vụ học tập, phi thương mại. Bản gốc: bản chụp Báo cáo thường niên trên Internet Archive (archive.org), không phải trang chính chủ.
Đoạn gốc tiếng Anh ở trên, bản dịch tiếng Việt ở dưới. Khi hai bản khác nhau, bản gốc là căn cứ.
To the Stockholders of Berkshire Hathaway Inc.:
Gửi các cổ đông của Berkshire Hathaway Inc.:
Operating earnings of Berkshire Hathaway during 1972 amounted to a highly satisfactory 19.8% of beginning shareholders’ equity. Significant improvement was recorded in all of our major lines of business, but the most dramatic gains were in insurance underwriting profit. Due to an unusual convergence of favorable factors—diminishing auto accident frequency, moderating accident severity, and an absence of major catastrophes—underwriting profit margins achieved a level far above averages of the past or expectations of the future.
Lợi nhuận hoạt động (Operating earnings) của Berkshire Hathaway trong năm 1972 đạt mức rất đáng hài lòng là 19,8% trên vốn chủ sở hữu (shareholders’ equity) đầu kỳ của cổ đông. Tất cả các mảng kinh doanh chính của chúng ta đều ghi nhận sự cải thiện đáng kể, nhưng mức tăng ấn tượng nhất là ở lãi nghiệp vụ bảo hiểm (underwriting). Nhờ sự hội tụ bất thường của các yếu tố thuận lợi—tần suất tai nạn ô tô giảm dần, mức độ nghiêm trọng của tai nạn dịu bớt, và không có thảm họa lớn nào—biên lợi nhuận nghiệp vụ bảo hiểm đã đạt mức cao hơn nhiều so với mức bình quân trong quá khứ hay mức kỳ vọng trong tương lai.
While we anticipate a modest decrease in operating earnings during 1973, it seems clear that our diversification moves of recent years have established a significantly higher base of normal earning power. Your present management assumed policy control of the company in May, 1965. Eight years later, our 1972 operating earnings of $11,116,256 represent a return many‐fold higher than would have been produced had we continued to devote our resources entirely to the textile business. At the end of the 1964 fiscal year, shareholders’ equity totaled $22,138,753. Since that time, no additional equity capital has been introduced into the business, either through cash sale or through merger. On the contrary, some stock has been reacquired, reducing outstanding shares by 14%. The increase in book value per share from $19.46 at fiscal year‐end 1964 to $69.72 at 1972 year‐end amounts to about 16.5% compounded annually.
Mặc dù chúng tôi dự kiến lợi nhuận hoạt động sẽ giảm khiêm tốn trong năm 1973, có vẻ rõ ràng là các bước đa dạng hóa của chúng ta trong những năm gần đây đã thiết lập một nền tảng khả năng sinh lời (earning power) thông thường cao hơn đáng kể. Ban quản lý hiện tại của các bạn đã nắm quyền kiểm soát chính sách của công ty vào tháng 5 năm 1965. Tám năm sau, lợi nhuận hoạt động năm 1972 của chúng ta ở mức 11.116.256 USD thể hiện một mức sinh lời cao gấp nhiều lần so với mức lẽ ra đã đạt được nếu chúng ta tiếp tục dồn toàn bộ nguồn lực của mình vào ngành dệt may. Vào cuối năm tài chính 1964, vốn chủ sở hữu của cổ đông đạt tổng cộng 22.138.753 USD. Kể từ đó, không có thêm vốn cổ phần nào được đưa vào doanh nghiệp, dù là thông qua bán lấy tiền mặt hay thông qua sáp nhập. Ngược lại, một số cổ phiếu đã được mua lại, làm giảm 14% số cổ phiếu đang lưu hành. Mức tăng giá trị sổ sách (book value) trên mỗi cổ phiếu từ 19,46 USD vào cuối năm tài chính 1964 lên 69,72 USD vào cuối năm 1972 tương đương mức tăng trưởng kép khoảng 16,5% hằng năm.
Our three major acquisitions of recent years have all worked out exceptionally well—from both the financial and human standpoints. In all three cases, the founders were major sellers and received significant proceeds in cash—and, in all three cases, the same individuals, Jack Ringwalt, Gene Abegg and Vic Raab, have continued to run the businesses with undiminished energy and imagination which have resulted in further improvement of the fine records previously established.
Ba thương vụ mua lại lớn của chúng ta trong những năm gần đây đều đã diễn ra đặc biệt tốt đẹp—cả trên phương diện tài chính lẫn phương diện con người. Trong cả ba trường hợp, những người sáng lập đều là bên bán chính và đã nhận được khoản tiền mặt đáng kể—và, trong cả ba trường hợp, chính những cá nhân đó, Jack Ringwalt, Gene Abegg và Vic Raab, vẫn tiếp tục điều hành các doanh nghiệp với nghị lực và óc sáng tạo không hề suy giảm, nhờ đó các thành tích tốt đẹp đã được thiết lập trước đây tiếp tục được cải thiện thêm.
We will continue to search for logical extensions of our present operations, and also for new operations which will allow us to continue to employ our capital effectively.
Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm những hướng mở rộng hợp lý cho các hoạt động hiện tại của chúng ta, và cả những hoạt động mới cho phép chúng ta tiếp tục sử dụng vốn của mình một cách hiệu quả.
Textile Operations
Hoạt động dệt may
As predicted in last year’s annual report, the textile industry experienced a pickup in 1972. In recent years, Ken Chace and Ralph Rigby have developed an outstanding sales organization enjoying a growing reputation for service and reliability. Manufacturing capabilities have been restructured to complement our sales strengths.
Như đã dự báo trong báo cáo thường niên năm ngoái, ngành dệt may đã khởi sắc trong năm 1972. Trong những năm gần đây, Ken Chace và Ralph Rigby đã xây dựng một bộ máy bán hàng xuất sắc, ngày càng có uy tín về dịch vụ và độ tin cậy. Năng lực sản xuất đã được tái cấu trúc để bổ trợ cho những thế mạnh bán hàng của chúng ta.
Helped by the industry recovery, we experienced some payoff from these efforts in 1972. Inventories were controlled, minimizing close‐out losses in addition to minimizing capital requirements; product mix was greatly improved. While the general level of profitability of the industry will always be the primary factor in determining the level of our textile earnings, we believe that our relative position within the industry has noticeably improved. The outlook for 1973 is good.
Nhờ có sự hỗ trợ từ đà phục hồi của ngành, chúng ta đã thu được một phần thành quả từ những nỗ lực này trong năm 1972. Hàng tồn kho được kiểm soát, giúp giảm thiểu các khoản lỗ do bán xả hàng tồn (close-out) bên cạnh việc giảm thiểu nhu cầu vốn; cơ cấu sản phẩm đã được cải thiện rất nhiều. Mặc dù mức sinh lời chung của ngành sẽ luôn là yếu tố chính quyết định mức lợi nhuận dệt may của chúng ta, chúng tôi tin rằng vị thế tương đối của chúng ta trong ngành đã cải thiện rõ rệt. Triển vọng cho năm 1973 là tốt.
Insurance Underwriting
Nghiệp vụ bảo hiểm
Our exceptional underwriting profits during 1972 in the large traditional area of our insurance business at National Indemnity present a paradox. They served to swell substantially total corporate profits for 1972, but the factors which produced such profits induced exceptional amounts of new competition at what we believe to be a non‐compensatory level of rates. Over‐all, we probably would have retained better prospects for the next five years if profits had not risen so dramatically this year.
Lãi nghiệp vụ bảo hiểm đặc biệt cao của chúng ta trong năm 1972 ở mảng truyền thống quy mô lớn của hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại National Indemnity đặt ra một nghịch lý. Khoản lãi này đã góp phần làm tổng lợi nhuận của công ty năm 1972 tăng lên đáng kể, nhưng chính những yếu tố tạo ra khoản lãi đó đã kéo theo một lượng cạnh tranh mới đặc biệt lớn ở một mức phí mà chúng tôi tin là không đủ bù đắp. Xét tổng thể, có lẽ chúng ta đã giữ được triển vọng tốt hơn cho năm năm tới nếu lợi nhuận năm nay không tăng vọt đến vậy.
Substantial new competition was forecast in our annual report for last year and we experienced in 1972 the decline in premium volume that we stated such competition implied. Our belief is that industry underwriting profit margins will narrow substantially in 1973 or 1974 and, in time, this may produce an environment in which our historical growth can be resumed.
Sự cạnh tranh mới đáng kể đã được dự báo trong báo cáo thường niên năm ngoái của chúng ta, và trong năm 1972 chúng ta đã trải qua sự sụt giảm doanh thu phí bảo hiểm mà chúng tôi đã nói là hệ quả của sự cạnh tranh đó. Chúng tôi tin rằng biên lợi nhuận nghiệp vụ bảo hiểm của ngành sẽ thu hẹp đáng kể trong năm 1973 hoặc 1974 và, theo thời gian, điều này có thể tạo ra một môi trường trong đó mức tăng trưởng như trong lịch sử của chúng ta có thể được nối lại.
Unfortunately, there is a lag between deterioration of underwriting results and tempering of competition. During this period we expect to continue to have negative volume comparisons in our traditional operation. Our seasoned management, headed by Jack Ringwalt and Phil Liesche, will continue to underwrite to produce a profit, although not at the level of 1972, and base our rates on long‐term expectations rather than short‐term hopes. Although this approach has meant dips in volume from time to time in the past, it has produced excellent long‐term results.
Không may là có một độ trễ giữa sự suy giảm của kết quả nghiệp vụ bảo hiểm và sự dịu bớt của cạnh tranh. Trong giai đoạn này, chúng tôi dự kiến sẽ tiếp tục có doanh thu phí sụt giảm so với kỳ trước trong hoạt động truyền thống của chúng ta. Đội ngũ quản lý dày dạn kinh nghiệm của chúng ta, do Jack Ringwalt và Phil Liesche đứng đầu, sẽ tiếp tục nhận bảo hiểm để tạo ra lợi nhuận, dù không ở mức như năm 1972, và xác định mức phí của chúng ta dựa trên kỳ vọng dài hạn thay vì những hy vọng ngắn hạn. Mặc dù trong quá khứ cách tiếp cận này đôi khi đồng nghĩa với việc doanh thu phí sụt giảm, cách tiếp cận đó đã đem lại những kết quả dài hạn xuất sắc.
Also as predicted in last year’s report, our reinsurance division experienced many of the same competitive factors in 1972. A multitude of new organizations entered what has historically been a rather small field, and rates were often cut substantially, and we believe unsoundly, particularly in the catastrophe area. The past year turned out to be unusually free of catastrophes and our underwriting experience was good.
Cũng như đã dự báo trong báo cáo năm ngoái, bộ phận tái bảo hiểm (reinsurance) của chúng ta đã gặp phải nhiều yếu tố cạnh tranh tương tự trong năm 1972. Vô số tổ chức mới đã gia nhập một lĩnh vực mà xưa nay vốn khá nhỏ, và mức phí thường bị cắt giảm mạnh, và chúng tôi tin là thiếu lành mạnh, đặc biệt trong mảng thảm họa. Năm vừa qua hóa ra lại ít thảm họa một cách bất thường và kết quả thực tế về nghiệp vụ bảo hiểm của chúng ta là tốt.
George Young has built a substantial and profitable reinsurance operation in just a few years. In the longer term we plan to be a very major factor in the reinsurance field, but an immediate expansion of volume is not sensible against a background of deteriorating rates. In our view, underwriting exposures are greater than ever. When the loss potential inherent in such exposures becomes an actuality, repricing will take place which should give us a chance to expand significantly.
George Young đã xây dựng một hoạt động tái bảo hiểm có quy mô đáng kể và có lãi chỉ trong vài năm. Về dài hạn, chúng tôi có kế hoạch trở thành một nhân tố rất lớn trong lĩnh vực tái bảo hiểm, nhưng việc mở rộng ngay doanh thu phí là không hợp lý trong bối cảnh mức phí đang suy giảm. Theo quan điểm của chúng tôi, mức rủi ro gánh chịu trong nghiệp vụ bảo hiểm đang lớn hơn bao giờ hết. Khi khả năng tổn thất tiềm ẩn trong những mức rủi ro gánh chịu đó trở thành hiện thực, việc định giá lại mức phí sẽ diễn ra, và điều đó dự kiến sẽ cho chúng ta cơ hội mở rộng đáng kể.
In the “home state” operation, our oldest and largest such company, Cornhusker Casualty Company, operating in Nebraska only, achieved good underwriting results. In the second full year, the home state marketing appeal has been proven with the attainment of volume on the order of one‐third of that achieved by “old line” giants who have operated in the state for many decades.
Trong hoạt động “nội bang” (home state), công ty lâu đời nhất và lớn nhất trong số các công ty như vậy của chúng ta, Cornhusker Casualty Company, chỉ hoạt động tại Nebraska, đã đạt kết quả nghiệp vụ bảo hiểm tốt. Trong năm hoạt động trọn vẹn thứ hai, sức hấp dẫn tiếp thị của mô hình nội bang đã được chứng minh khi đạt doanh thu phí vào khoảng một phần ba mức mà các công ty khổng lồ “lâu đời” (old line), vốn đã hoạt động tại bang này trong nhiều thập kỷ, đạt được.
Our two smaller companies, in Minnesota and Texas, had unsatisfactory loss ratios on very small volume. The home state managements understand that underwriting profitably is the yardstick of success and that operations can only be expanded significantly when it is clear that we are doing the right job in the underwriting area. Expense ratios at the new companies are also high, but that is to be expected when they are in the development stage.
Hai công ty nhỏ hơn của chúng ta, ở Minnesota và Texas, có tỷ lệ bồi thường (loss ratios) không đạt yêu cầu trên quy mô doanh thu phí rất nhỏ. Ban quản lý các công ty nội bang hiểu rằng nhận bảo hiểm có lãi là thước đo của thành công và rằng chỉ có thể mở rộng đáng kể hoạt động khi đã rõ ràng là chúng ta đang làm đúng việc trong lĩnh vực nghiệp vụ bảo hiểm. Tỷ lệ chi phí (Expense ratios) tại các công ty mới cũng cao, nhưng đó là điều có thể lường trước khi các công ty đang trong giai đoạn phát triển.
John Ringwalt has done an excellent job of launching this operation, and plans to expand into at least one additional state during 1973. While there is much work yet to be done, the home state operation appears to have major long‐range potential.
John Ringwalt đã làm rất xuất sắc việc khởi động hoạt động này, và có kế hoạch mở rộng sang ít nhất một bang nữa trong năm 1973. Mặc dù vẫn còn nhiều việc phải làm, hoạt động nội bang có vẻ có tiềm năng dài hạn lớn.
Last year it was reported that we had acquired Home and Automobile Insurance Company of Chicago. We felt good about the acquisition at the time, and we feel even better now. Led by Vic Raab, this company continued its excellent record in 1972. During 1973 we expect to enter the Florida (Dade County) and California (Los Angeles) markets with the same sort of specialized urban auto coverage which Home and Auto has practiced so successfully in Cook County. Vic has the managerial capacity to run a much larger operation. Our expectation is that Home and Auto will expand significantly within a few years.
Năm ngoái đã có thông báo rằng chúng ta đã mua lại Home and Automobile Insurance Company ở Chicago. Lúc đó chúng tôi cảm thấy hài lòng về thương vụ mua lại này, và giờ đây chúng tôi còn cảm thấy hài lòng hơn nữa. Dưới sự dẫn dắt của Vic Raab, công ty này đã tiếp tục thành tích xuất sắc của mình trong năm 1972. Trong năm 1973, chúng tôi dự kiến sẽ thâm nhập các thị trường Florida (Quận Dade) và California (Los Angeles) với cùng loại hình bảo hiểm ô tô chuyên biệt cho khu vực đô thị mà Home and Auto đã triển khai rất thành công tại Quận Cook. Vic có năng lực quản lý để điều hành một hoạt động lớn hơn nhiều. Chúng tôi kỳ vọng rằng Home and Auto sẽ mở rộng đáng kể trong vòng vài năm.
Insurance Investment Results
Kết quả đầu tư của mảng bảo hiểm
We were most fortunate to experience dramatic gains in premium volume from 1969 to 1971 coincidental with virtually record‐high interest rates. Large amounts of investable funds were thus received at a time when they could be put to highly advantageous use. Most of these funds were placed in tax‐exempt bonds and our investment income, which has increased from $2,025,201 in 1969 to $6,755,242 in 1972, is subject to a low effective tax rate.
Chúng ta đã hết sức may mắn khi có được mức tăng ấn tượng về doanh thu phí bảo hiểm từ năm 1969 đến năm 1971, trùng với thời điểm lãi suất gần như ở mức cao kỷ lục. Nhờ vậy, một lượng lớn nguồn vốn có thể đầu tư đã được tiếp nhận vào đúng lúc có thể sử dụng nguồn vốn đó một cách rất có lợi. Phần lớn nguồn vốn này được đặt vào trái phiếu miễn thuế (tax-exempt bonds) và thu nhập đầu tư của chúng ta, vốn đã tăng từ 2.025.201 USD năm 1969 lên 6.755.242 USD năm 1972, chịu thuế suất thực tế (effective tax rate) thấp.
Our bond portfolio possesses unusually good call protection, and we will benefit for many years to come from the high average yield of the present portfolio. The lack of current premium growth, however, will moderate substantially the growth in investment income during the next several years.
Danh mục trái phiếu của chúng ta được bảo vệ tốt một cách bất thường trước việc bị mua lại trước hạn (call protection), và chúng ta sẽ được hưởng lợi trong nhiều năm tới từ lợi suất bình quân cao của danh mục hiện tại. Tuy nhiên, việc phí bảo hiểm hiện không tăng trưởng sẽ làm chậm đáng kể mức tăng thu nhập đầu tư trong vài năm tới.
Banking Operations
Hoạt động ngân hàng
Our banking subsidiary, The Illinois Bank and Trust Co. of Rockford, maintained its position of industry leadership in profitability. After‐tax earnings of 2.2% on average deposits in 1972 are the more remarkable when evaluated against such moderating factors as: (1) a mix of 50% time deposits heavily weighted toward consumer savings instruments, all paying the maximum rates permitted by law; (2) an unvaryingly strong liquid position and avoidance of money‐market borrowings; (3) a loan policy which has produced a net charge‐off ratio in the last two years of about 5% of that of the average commercial bank. This record is a direct tribute to the leadership of Gene Abegg and Bob Kline who run a bank where the owners and the depositors can both eat well and sleep well.
Công ty con ngân hàng của chúng ta, The Illinois Bank and Trust Co. ở Rockford, đã duy trì vị thế dẫn đầu ngành về mức sinh lời. Lợi nhuận sau thuế đạt 2,2% trên tiền gửi bình quân trong năm 1972 càng đáng chú ý hơn khi được đánh giá trong tương quan với những yếu tố kìm hãm như: (1) một cơ cấu với 50% là tiền gửi có kỳ hạn, nghiêng mạnh về các công cụ tiết kiệm dành cho khách hàng cá nhân, tất cả đều trả mức lãi suất tối đa pháp luật cho phép; (2) trạng thái thanh khoản luôn mạnh không thay đổi và việc tránh vay trên thị trường tiền tệ; (3) một chính sách cho vay đã tạo ra tỷ lệ xóa nợ ròng (net charge-off ratio) trong hai năm qua bằng khoảng 5% tỷ lệ của một ngân hàng thương mại bình quân. Thành tích này là sự ghi nhận trực tiếp dành cho khả năng lãnh đạo của Gene Abegg và Bob Kline, những người điều hành một ngân hàng mà ở đó cả chủ sở hữu lẫn người gửi tiền đều có thể ăn ngon và ngủ yên.
During 1972, interest paid to depositors was double the amount paid in 1969. We have aggressively sought consumer time deposits, but have not pushed for large “money market” certificates of deposit although, during the past several years, they have generally been a less costly source of time funds.
Trong năm 1972, tiền lãi trả cho người gửi tiền gấp đôi số tiền đã trả trong năm 1969. Chúng tôi đã tích cực tìm kiếm tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng cá nhân, nhưng không đẩy mạnh huy động các chứng chỉ tiền gửi (certificates of deposit) “thị trường tiền tệ” có giá trị lớn, mặc dù trong vài năm qua các chứng chỉ này nhìn chung là một nguồn vốn có kỳ hạn ít tốn kém hơn.
During the past year, loans to our customers expanded approximately 38%. This is considerably more than indicated by the enclosed balance sheet which includes $10.9 million in short‐term commercial paper in the 1971 loan total, but which has no such paper included at the end of 1972. Our position as “Rockford’s Leading Bank” was enhanced during 1972. Present rate structures, a decrease in investable funds due to new Federal Reserve collection procedures, and a probable increase in already substantial non‐federal taxes make it unlikely that Illinois National will be able to increase its earnings during 1973.
Trong năm qua, các khoản cho vay đối với khách hàng của chúng ta đã tăng khoảng 38%. Mức này cao hơn đáng kể so với những gì thể hiện trên bảng cân đối kế toán gửi kèm, vốn bao gồm 10,9 triệu USD thương phiếu (commercial paper) ngắn hạn trong tổng dư nợ cho vay năm 1971, nhưng không bao gồm khoản thương phiếu nào như vậy vào cuối năm 1972. Vị thế “Ngân hàng hàng đầu của Rockford” của chúng ta đã được củng cố trong năm 1972. Cơ cấu lãi suất hiện tại, sự sụt giảm nguồn vốn có thể đầu tư do các quy trình thu hộ mới của Cục Dự trữ Liên bang, và khả năng gia tăng các khoản thuế ngoài thuế liên bang vốn đã ở mức đáng kể khiến Illinois National khó có khả năng tăng lợi nhuận trong năm 1973.
Financial
Tài chính
On March 15, 1973, Berkshire Hathaway borrowed $20 million at 8% from twenty institutional lenders. This loan is due March 1, 1993, with principal repayments beginning March 1, 1979. From the proceeds, $9 million was used to repay our bank loan and the balance is being invested in insurance subsidiaries. Periodically, we expect that there will be opportunities to achieve significant expansion in our insurance business and we intend to have the financial resources available to maximize such opportunities.
Ngày 15 tháng 3 năm 1973, Berkshire Hathaway đã vay 20 triệu USD với lãi suất 8% từ hai mươi tổ chức cho vay. Khoản vay này đáo hạn ngày 1 tháng 3 năm 1993, với việc hoàn trả nợ gốc bắt đầu từ ngày 1 tháng 3 năm 1979. Từ số tiền thu được, 9 triệu USD đã được dùng để trả khoản vay ngân hàng của chúng ta và phần còn lại đang được đầu tư vào các công ty con bảo hiểm. Chúng tôi dự kiến rằng theo từng thời kỳ sẽ có những cơ hội để mở rộng đáng kể hoạt động kinh doanh bảo hiểm của chúng ta, và chúng tôi dự định có sẵn nguồn lực tài chính để tận dụng tối đa những cơ hội như vậy.
Our subsidiaries in banking and insurance have major fiduciary responsibilities to their customers. In these operations we maintain capital strength far above industry norms, but still achieve a good level of profitability on such capital. We will continue to adhere to the former objective and make every effort to continue to maintain the latter.
Các công ty con của chúng ta trong lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm có những trách nhiệm ủy thác (fiduciary) lớn đối với khách hàng của mình. Trong các hoạt động này, chúng tôi duy trì sức mạnh vốn cao hơn nhiều so với chuẩn mực của ngành, nhưng vẫn đạt được mức sinh lời tốt trên số vốn đó. Chúng tôi sẽ tiếp tục kiên trì với mục tiêu thứ nhất và nỗ lực hết sức để tiếp tục duy trì mục tiêu thứ hai.
Warren E. Buffett Chairman of the Board March 16, 1973
Warren E. Buffett Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngày 16 tháng 3 năm 1973
Nhận bài mới qua email
Mỗi khi có bài hoặc video mới, một thư ngắn gửi tới hộp thư của bạn. Không gửi quảng cáo, huỷ lúc nào cũng được. Thích đọc bằng ứng dụng thì dùng RSS.
Email chỉ dùng để gửi bài mới. Chi tiết ở Chính sách bảo mật.